Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013
Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013
Chương Trình hành Động Cụ thể từ tháng 9/2011- 9/2020
Chương Trình hành Động Cụ thể từ tháng 9/2011- 9/2020
Để hậu duệ con cháu các nơi chung nguồn gốc tổ phụ Vũ Tam Lang hiệu là Phúc Quảng thấu hiểu gia phả là gia bảo là lịch sử của dòng họ một gia đình. Đành rằng cái ăn, cái mặc để nuôi sống gia đình và bản thân. Việc học hành của con cái là việc hàng đầu. Nhung có thấy nỗi day dứt của những người có tâm huyết muốn truyền cho con cháu biết đời cha ông mình do ai sinh ra, từ đâu đến, tổ tiên công đức ra sao, ngặt vì gia phả đã mất, hoặc vì bằng chữ hán nôm đã mất trang, mất dòng, dịch ra chữ quốc ngữ chưa thoát nghĩa. Có thấy được nỗi niềm của những người trú ngụ phương xa, không được ông cha truyền lại cho biết gốc gác nhà mình ở đâu, họ hàng Bà những ai? Khi đó mới thấy đầy đủ ý nghĩa của' hai chưa “Gia phả” là “Gia bảo”. Giọt nước rất" quý đối với người sống trên sa mạc, còn đối với người sống ven sông dễ gì mỗi lần uống nước lại phải nhớ nguồn.
Họ ta tuy có Gia phả bằng chữ hán nôm do hai cụ hậu duệ đời thứ 8 Vũ Doãn Lập chỉnh biên Vũ Doãn Tập hiệu đính từ năm 1910 và năm 2002 hậu duệ đới thứ 11 Vũ Trọng Đại nhờ nhà giáo Phạm Thế Quyền dịch sang chữ quốc ngữ.
1. Với gia phả dịch năm 2002 cần bổ sung thêm. Gia phả: cụ thuỷ tổ quê ở đâu? đến đất Tống Súc từ bao giờ? Có mấy bà vợ? Có mấy con trai, gái? làm ghề gì? Còn tổ mẫu chính thất hay thứ thất con ông nào? bà nào? đời thứ mấy, ở đâu, thuộc chi ngành họ Lưu nào?Đây là việc làm chẳng khác nào mò kim đáy bể cần phải có những vị hậu đuệ đời nay có sức khoẻ, có thời gian, công sức, tiền của, tâm huyết, đức độ, điềm đạm, cần cù, chịu khó tìm kiếm, trung thực ghi chép, tỷ mỷ những tư liệu nhỏ nhất mới có thể hé mở được, lấp được những khiếm khuyết trên, cố gắng sưu tầm từ nay đến 2015 - 2020.
2. Gia phả 2002 ghi chép đặc chủng con trai nhưng vẫn sơ sài, có chỗ chưa được chính xác, con gái có ghi cũng ghi chép sơ lược. Việc sinh kế ở các nơi cũng ghi chép quá sơ sài việc này các nơi, các chi, các ngành nên giành thời gian ghi chép tự thuật, viết theo phân chi, phân ngành, sau ban liên lạc tổng hợp lại từ năm. 2011 - 2015 cho xong, để năm 2016 - 2020 tổng hợp thành đại họ và hiệu đính chỉnh biên gia phả, quyển hạn (lập 2).
3. Yêu cầu của Gia phả Tập 2 Các gia đình trong dòng họ tự thuật về gia phả của chi, ngành, gia đình mình. Nhờ các ông các bác, các chú đời thứ 9 - 10 - 11 viết cho từ nay đến 26/12 Tân Mão huỷ nhật tổ Phụ cho xong. Đến năm 2012 có các chi họ gặp nhau ta tiếp nhận dể chỉnh lý).Trước hết phải ghi chép rõ ràng, thể chữ chân phương, có ghi rõ tên người sao lục, biên soạn thuộc đời thứ mấy, năm nào? triều vua nào? căn cứ vào bản nào? tên người tục biên, qua các đời cũng có cứơc chú rõ ràng, đầu gia phả có lời tựa ghi được nguồn gốc xuất xứ của thuỷ tổ, có tư liệu thành văn hay truyền ngôn, mở đầu là thuỷ tổ, lần lượt đến tiên tổ, các đời nói dòng đến lớp con cháu mới sinh.
Tên: Gồm tên huý, tên tự, hiệt hiệu và tên gọi, thông thường, thuộc đời thứ mấy, con thứ mấy của ông nào? bà nào? ngày gíỗ tháng năm sinh mất, thọ bao nhiêu tuổi, mộ táng ở đâu học hành thi cử đậu đạt, chức vụ, địa vị, lúc sinh thời và truy phong sau khi mấtVợ: Vợ chánh thất, kế thất hoặc thứ thất, họ tên con gái thứ mấy con ông nào? quê ở đâu?
Con ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bào nào, con trai, con gái lấy chồng lấy vợ thì ghi tên họ vợ, họ chồng, con ông nào? Bà nào? con thứ mấy ở đâu, đậu đạt chức tước.
Đây là một đợt sinh hoạt tìm hiểu về cội nguồn của một dòng họ tuy đã đến đời thứ 13.
Qua đó thống kê những chi thành đạt để chuyển bị đến năm 2013-2014 hoàn thiên gia phả dòng họ tâp 2 và cây gia phả dòng họ xác định rõ các cụ bên huỷ tước xã Hổng Nam - Phố Hiến - thành phố Hưng Yên
+ Quê tổ nhờ hậu duệ đời thứ 10:
Vũ Doãn Trúc - Vũ Doẵn Quyền - Vũ Tiến Diên - Vũ Tiến Điện – Vũ Công Thành - Vũ Đức Thiềm - Vũ Đức Kiểm - Vũ Hưu Phương - Vũ Đức Hanh - Vũ Đức Tuấn - Vũ Đức Toản - Vũ Đức Tuân - Vũ Đức Dễ - Vũ Đức Bá - Vũ Đức Truyền - Vũ Đức Long - Vũ Phúc Bảng - Vũ Viết Cơ.
+Quê Bắc Giang nhờ hậu duệ đời thứ 9-10
Hậu duệ đời thứ 9 Vũ Văn Đĩnh - Vũ Văn Đãng - Vũ Văn Tằm.Hậu duệ đời thứ 10,Vũ văn Điệp - Vũ văn Se - Vũ Đức Loan – Vũ Văn Bộ - Vũ Đức Văn - Vũ Đức Nhân - Vũ Văn Luận - Vũ Văn Lý – Vũ Vãn Hảo - Vũ Văn Thao - Vũ Văn Nam - Vũ Văn Việt - Vũ Vãn Tâm - VuVăn Dương - Vũ Văn Đại.
Quê Đông Anh-Hà Nội nhờ hậu duệ đời thứ 11 Vũ Trọng Đại,Vũ Xuân Hữu-Vũ Duy Việt Vũ Duy Thuỷ - Vũ Duy Hùng.
Quê Tứ Kỳ nhờ hậu duệ đời thứ 10 Vũ Văn Tầm hậu duệ đới thứ 11 Vũ Quang Thước Vũ Cao Lanh - Vũ Văn Tuân - Vũ Văn Lâm.
Để tham khảo và giúp làm hé mở một phần những hạn chế, ở Hà Nội nhờ 3 hậu duệ đời thứ 10 Vũ Tiến Diên - Vũ Hữu Phương - Vũ Đức Hanh đến: Liên hiệp khoa học UIA viện khoa học hình sự Bộ công an, trung tâm bảo trợ RCTCT số 01 Đông Tác - Kim Liên - Đống Đa - Hà Nội để xin lịch hẹn. Cố gắng những tháng còn lại 2011đến hết năm 2012
Còn việc mở rộng không gia nhà thờ tại quê tổ mong các nơi suv nghĩ cho ý kiến vào các năm 2014 - 2017 - 2020 dần từng bước ta thực hiện
+ Phần mộ, những tháng còn lại năm 2011 sẽ hoàn chỉnh những phần còn thiếu khi
khánh thành và xem xét ngôi mộ đã duy chuvển ở trước mộ thuỷ tổ có phải không?
+Nhà Thờ :
Đây chỉ là phác thảo chương trình hành động mong các thành viên trong dòng họ chỉ giáo, hiến kế ta thực hiên cho kỳ được.
Vũ Doãn Tịch
Phụ Trách Hội đồng Gia Tộc
Lễ Vu Lan 2013 Tại Chùa Quang Minh (Chùa Tống)
Con Cháu Họ Vũ làm Lễ Cầu siêu cho Ông Bà Tại Chùa Thôn Tống Xuyên.
Những ngày tháng Bẩy âm lịch lại về, mang theo chút mưa nắng thất thường đan xen vào dòng đời tấp nập. Cũng chính lúc này, nhà nhà đều thành kính bước vào mùa Vu Lan - mùa báo hiếu… Bản chất cuộc đời như con thuyền ngoài biển khơi, có lúc sóng yên gió lặng, thuyền đi êm ả và đích đến dễ dàng đạt được. Nhưng phần lớn trên hành trình ấy, con thuyền thường phải đương đầu với muôn vàn sóng gió để cập bờ.
Đó là những lúc buồn - vui – sướng - khổ, là những giây phút tươi nở nụ cười hay rưng rưng nước mắt. Trong khoảnh khắc đó, con người ta thường có thiên hướng nghĩ tới xuất phát điểm của cuộc đời mình mà tung hô hay than vãn. Và cho dù là sung sướng hay kêu than, thì ngàn đời nay muôn người vẫn thường than với Trời, sau đó là than với Cha mẹ. Ừ thì than Trời, nhưng dẫu có than Trời thì vẫn cao quá, xa quá, đâu thấu lòng ta! Vậy còn lại chỉ có Cha mẹ là nơi trút bỏ mọi ưu tư, sầu khổ của kiếp người. Bởi Mẹ cha là nguồn cội, là cái nôi sinh thành và cho ta được sống để có thể biết khổ đau hay hạnh phúc!
Kiếm đâu ra trên thế gian này một điểm tựa vững chắc như Cha. Tìm đâu ra giữa biển người bao la một vòng tay ấm áp yêu thương như vòng tay Mẹ. Dù cho đi hết cuộc đời thì lòng cha mẹ vẫn không phút giây nào thôi trông mong, lo lắng cho những đứa con mà họ đã dứt ruột sinh thành.
Công lao trời bể của Mẹ cha cho tới hết đời, không một người con nào có thể trả cạn. Chỉ có thể đền đáp ơn sâu ấy bằng việc sống sao cho nên người, cho lành thiện. Nhất là với người trẻ chúng ta khi nhớ về Mẹ-Cha, bậc sinh thành yêu quý mà trong nhịp thở gấp gáp của cuộc sống hiện đại, ai đó đã có phút sao nhãng, lãng quên. Mùa báo hiếu tháng 7 Âm lịch cũng là dịp để ta sống chậm lại và yêu thương nhiều hơn, gửi gắm tình cảm và hành động thực sự tới những số phận xung quanh mình. Ai đã mất đi Cha mẹ thì trọn đời không được quên lãng công lao dưỡng dục của đấng sinh thành. Ai còn cha mẹ thì càng phải sống sao cho có đạo hiếu, chớ thờ ơ, tàn nhẫn mà bất kính, bất hiếu với Mẹ cha để phải ôm trong lòng nỗi xót xa, ân hận.
Ta hành động hiếu hạnh không phải để mong cho bản thân ta có thêm điều lợi hay tiếng thơm, mà đơn giản là để thấy lòng nhẹ bẫng, vui vẻ và thanh thản, hành động để thấu được triết lí giản đơn mà sâu xa của Phật dạy, ấy là phải biết
“Từ, bi, hỷ, xả” hay “vô ngã", "vị tha”,
Cũng là tiếp bước dòng chủ lưu của đạo lý dân tộc:
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”.
Với người già hãy đên chùa cầu siêu cho cha mẹ ông bà
Bạn có thể chọn một bông hoa cài lên ngực áo hoặc không trong ngày lễ Vu Lan, nhưng nghĩ về ngày này với ý nghĩa nhân bản, âu cũng là cách để bạn tri ân cuộc sống tươi đẹp này. Bông hoa hồng được chọn là biểu tượng của tình yêu, sự cao quý và ngát hương. Việc nhớ về bâc sinh thành và cài lên ngực bông hoa cao quý là tình cảm đẹp nhất, là chữ Hiếu mà con cái gửi đến bậc sinh thành. Với ý nghĩa đó, nhiều người Việt mình đến ngày Vu Lan đều cài một bông hoa màu hồng lên áo, ấy là biểu tượng của việc còn Mẹ-Cha. Ai đã mất mẹ thì cài hoa trắng.
Người có hoa hồng hẳn sẽ tự hào vô cùng vì trên đời này còn có Mẹ-Cha. Ai mang hoa trắng sẽ thấy như một sự nhắc nhở, rằng mình đã lỡ mất những gì quý giá nhất, từ đó mà hành động sao cho phải với lương tâm.
Vu Lan là dịp đặc biệt để giới trẻ sống chậm lại và yêu thương nhiều hơn. Và xin chớ quên rằng: Ai còn Cha mẹ… xin đừng thờ ơ |
Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013
Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013
Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013
Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013
Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013
Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013
Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013
NGŨ CHI BÁT PHÁI LÀNG MỘ TRẠCH
Soạn Thảo Phả Đồ của 5 Chi Tám Phái Làng Mộ Trạch dùng để so sánh với Họ Vũ Thôn Tống xuyên Huyện Hưng Hà Tỉnh Thái Bình.Nội Dung của Phả đồ chỉ giới hạn đến năm kỷ mão 1819 Đời Vua Gia Long trở về trước để dễ dàng so sánh với Thuỷ Tổ.
Phả Đồ 2
Phả Đồ 3
Phả Đồ 4
Hình 5
Phả Đồ 6
Phả Đồ 7
Phả Đồ 8
5 ông Tổ đầu tiên của
Ngũ Chi là:
1-Vũ Tuỳ (không rõ năm sinh) Huyện Thừa: Khởi
tổ chi Một (cha ông Tiến Sĩ Đôn).
2-Vũ Tấn (không rõ năm sinh) Thầy Thuốc: Khởi
tổ chi Hai (ông nội Hương Cống Hưu).
3-Vũ Hữu (trạng toán) Hiển Đức Đường
(1441 – 1511): đỗ Hoàng Giáp Tiến Sĩ năm 1463 (Quí Mùi) là khởi tổ chi Ba (cha
ông cống Vũ Vĩnh Phu).
4-Vũ Tráng (chưa rõ năm sinh) đỗ hướng cống,
Lang Trung, Thầy giáo và là khởi tổ chi Bốn.
5-Vũ Phong (Trạng Vật) đình uý chỉ huy Sứ. là
khởi tổ chi Năm (Lệ Trạch Đường) chi 5 có nhiều ông thành đạt và học giỏi.
1. Phái
thứ nhất: gọi là phái Giáp hay phái Tý, có cụ Vũ Quỳnh, đỗ Hoàng giáp khoa
Mậu Tuất (1478), triều vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) truyền đến đời thứ 8, Vũ
Nhân Bật không có con trai, coi như hết. Cụ Vũ Quỳnh có tên ở bia tại Văn Miếu,
Hà Nội.
Phả Đồ 1
2. Phái
thứ hai: gọi là phái Ất, hay phái Sửu, có cụ Vũ Cán, đỗ hoàng giáp khoa
Nhân Thân (1502), cụ Vũ trác Lạc đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), Văn
Miếu Hà Nội còn bia ghi tên hai cụ. Đến đời thứ 11, cụ Vũ Trác Oánh, đỗ cử
nhân, cùng Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên chống Trịnh Giang, từ năm 1735 đến
1741, .
Phả Đồ 2
3. Phái
thứ ba: gọi là phái Bính hay phái Dần, có cụ Vũ Tĩnh, đỗ Tiến sĩ, khoa Nhâm
Tuất (1562). Triều vua Mạc Phúc Nguyên (1546 – 1562), con cháu không còn ai ở
làng.
Phả Đồ 3
4. Phái
thứ tư gọi là phái Đinh hay phái Mão, có cụ Vũ Công Đạo đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ
Hợi (1659), cụ Vũ Công Lượng, đỗ dòng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu
Hà Nội có bia ghi tên 2 cụ, nhà thờ “Thế trạch đường” còn gọi là “Tràng Xuân
Đường, có bia ghi dự tíh và thơ văn. Con cháu còn truyền nay là đời thứ 15, 16,
17.
Phả Đồ 4
5. Phái
thứ năm: gọi là phái Mậu hay phái Thìn, có cụ Vũ Đăng Long, đỗ đồng Tiến sĩ
khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên cụ. Nhà thờ “Diên Khánh
Đường” và “Di trạch đường”. Con cháu còn truyên đến ngày nay là đời thứ 15, 16,
17.
Hình 5
6. Phái thứ
sáu: còn gọi là phái Kỷ, phái Thìn có cụ Vũ Công Bình đỗ đồng
tiến khoa Giáp Thìn (1664), cụ Vũ Huy Đĩnh, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất
(1754). Văn miếu Hà Nội còn bia ghi tên 2 cụ. Cụ Vũ Huy Đỉnh lại có tên trên
bảng danh sách “tể tửu tử nghiệp” Quốc tử giám cùng với cụ Vũ Quỳnh là người
phái Giáp. Nhà thờ “Tích thiện đường”, con cháu còn truyền đến ngày nay là đời
thứ 15, 16, 17 …
Phả Đồ 6
7. Phái thứ
bảy: còn gọi là phái Canh, phái Tỵ, có cụ Vũ Lân Chỉ, đỗ đồng
Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15,
16, 17 …
Phả Đồ 7
8. Phái thứ
tám: còn gọi là phái Tân, phái Ngọ, có hữu mịch Vũ Nhật Quyện.
Nhà thờ “Phúc Khánh Đường” con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16,
17 …
Phả Đồ 8
Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013
Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013
Thôn Tống Xuyên Tên Gọi Qua Cac Thời Kỳ
Lich Sử Thôn Tống Qua các Thời Kỳ
- Huyện Ngự thiên (……………)(*)
- Huyện Thần Khê (sau là huyện Tiên Hưng)
- Huyện Duyên Hà
- Huyện Cổ Lan (sau là huyện Thanh Quan)
- Huyện Duyên Hà.
- Huyện Cổ Lan.
- Huyện Thần Khê.
- Huyện Ngự Thiên “Nguyên là huyện Tân Hoá thời kỳ thuộc Minh”
- Huyên Diên Hà,
- Thần Khê
- Thanh Lan
Đời Lê Trung hưng đổi lại như cũ (1578), sau chia Sơn Nam làm 2 lộ: phủ Khoái Châu thuộc Sơn Nam Thượng, phủ Tiên Hưng (cũ là Tân Hưng) thuộc Sơn Nam Hạ (Cảnh Hưng 2, 1741).
Phủ Tiên Hưng : gồm 4 huyện, 170 làng xã.
- Huyện Ngự Thiên : Gồm 51 làng xã. (Nguyên Là Huyện Tân Hoá) (*)
- Huyện Thanh Quan : 43 làng xã
- Huyện Thần Khê : 43 xã.
- Huyện Duyên Hà : 42 xã.
Đầu đời Gia Long vẫn theo cũ, đổi gọi là trấn.
Năm Minh Mênh 3 (1822), Sơn Nam Thượng đổi gọi là trấn Sơn Nam, Sơn Nam Hạ đổi gọi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mênh 12 (1831) chia đặt các tỉnh trong toàn quốc thành lập tỉnh Hưng Yên 興安省 gồm 2 phủ, 8 huyên.
Từ đời Lê đến đầu Nguyễn, phủ Tiên Hưng gổm 4 huyện:
- Ngự Thiên đời Gia Long, năm 1808 đổi là Hưng Nhân.
- Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (1802 đổi Thanh Quan).
- Thần Khê
- Tiên Lữ Năm Tự Đức thứ 4 (1861) tách huyên Thanh Quan sang phủ Thái Bình (tỉnh Nam Định), nhưng lại hợp với huyên Tiên Lữ từ phủ Khoái Châu tách sang (Tiên Lữ thay Thanh Quan); từ đó đến đời Đồng Khánh vẫn gồm 4 huyên không đổi.
Huyện Diên Hà 12 tổng, gồm 114 xã, thôn, trang:
Tổng Hiệu Vũ: Trước tên là tổng và xã Hổng Vũ 洪武 từ 1848 kiêng chữ Hổng (Hổng Nhậm, tiểu tự của Tự Đức), đổi là Hiệu Vũ 頦武
3.Tổng Hà lão, 9 xã,
4.Tổng Thanh Triều, 10 xã,
5.Tổng Đặng Xá, 10 xã, 2 trang
Huyện này thời cổ thuộc đất quận Giao Chỉ. Từ đời Lý-Trần về sau đều gọi như tên hiện nay. Sĩ, nông, công, thương ai lo nghiệp nấy, phong tục cần kiệm chất phác.
Riêng huyện Diên Hà có truyền thống văn học khá hơn, nhưng rải rác cũng có nơi thói tục điêu gian.
Dân Hưng Nhân phần nhiều điêugian hung hãn. Các việc cưới xin ma chay cũng theo như lệ thường. Nghi lẽ thờ thần cúng Phật cũng đều theo tục lệ, không xa hoa phí phạm lắm.
Sản vật: ít lúa hè, nhiều lúa thu. Hàng năm, sau vụ gặt, thường trổng xen khoai, đậu, cà, mía, đay, bông, địa tiên, chuối, cau, cam, mít. Trong vườn nhà dân thường trổng cây chè bạng, nhưng không được ngon
lắm. Nghề dệt chiếu cói thì ở 3 xã Xuân Trúc, Kiều Thạch, Quan Khê tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân.
Ngày 10-4-1946, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bỏ đơn vị tổng, đổi phủ thành huyện. Toàn tỉnh có 12 huyện, 1 thị xã và 829 xã, thôn.
Năm 1969, sáp nhập 12 huyện thành 7 huyện và 1 Thị xã. Ðó là các huyện :
- Hưng Hà (Hưng Nhân và Duyên Hà hợp thành),
- Ðông Hưng (Ðông Quan và Tiên Hưng hợp thành),
- Quỳnh Phụ (Quỳnh Côi và Phụ Dực cũ),
- Vũ Thư (Vũ Tiên và Thư Trì), Kiến Xương
- Tiền Hải.
Cảnh quan tự nhiên do tác động của con người trở thành cảnh quan văn hoá và mối quan hệ giữa hai cảnh quan này vận động, biến đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử. Ví dụ sự đổi dòng của sông Hồng, sông Thái Bình ... có làng xưa ở ven sông nay thành làng nội đồng với tất cả sự thay đổi về tụ điểm dân cư, xây dựng nhà cửa, nề nếp canh tác, nghề nghiệp
Ðồng đất Thái Bình được hình thành dọc theo các triền sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý là những bờ bãi thuận tiện cho con người cư trú và trồng trọt. Với ưu thế của vùng đất ven biển phù sa màu mỡ nên đã cuốn hút cư dân khắp nơi về khai phá, lập làng. Có hai luồng cư dân chủ yếu vào tụ cư và hợp cư ở Thái Bình. Ðó là luồng cư dân từ miền bắc xuống và luồng dân cư từ nhiều nơi đi theo đường biển vào. Ðịa bàn tụ cư của những lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này là nơi gò cao, những sống đất cao của ven biển, phần lớn thuộc đất đai của huyện Hưng Hà
Thôn Tống xuyên qua các thời kỳ Lịch Sử:
Nhà Đông Hán (năm 25 – năm 226), Vùng đất này nằm trong vùng đất phía nam cuối cùng của huyện Chu Diên, quận Giao chỉ, nơi cuốn hút mạnh mẽ các luồng cư dân tràn về khai phá, lập làng. Với ưu thế của vùng đất ven biển, sông ngòi thuận tiện nên đã sớm trở thành nơi ẩn giấu, gây dựng lực lượng của nhiều thủ lĩnh nổi dậy chống quân Hán. Nhiều thần phả, câu đối ở đình, miếu thuộc các huyện , Hưng Hà, còn ghi rõ tên tuổi của những bà mẹ, những chàng trai, cô gái Thái Bình đã đứng lên dưới ngọn cờ đại nghĩa của bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục và tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. “Thôn Tiên La, xã Đoan Hùng huyện Hưng Hà”
Thế kỷ 6 (thời nhà Tuỳ - Lương bên Trung Quốc): Phần lớn đất đai Vùng này thuộc quận Vũ Bình, phần còn lại thuộc đất quận Ninh Hải. Ðịa thế nơi đây không hiểm trở như vùng núi cao, rừng rậm nhưng lại xa thủ phủ của bọn xâm lược nên tạo điều kiện để các cuộc khởi nghĩa bùng nổ mà điển hình là cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo., nơi nhen nhóm lực lượng đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa - nơi nhân dân đã góp xương máu xây dựng và bảo vệ nhà nước Vạn Xuân non trẻ.
Thế kỷ 7 thuộc Đất Châu Diên.
Thời Kỳ Tự chủ Ngô, Đinh, Tiền Lê là đất Đằng Châu , 藤州
Thời tiền Lê, nhà Lê đổi đạo làm lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ là hương. đổi là phủ Thái Bình 太羊府
Năm 1005,Lê Long Đĩnh đem quân đi đánh về qua, cho đổi châu làm phủ Thái Bình).
Thời nhà Lý (thế kỷ 11)Đời Lý Cao Tông lại tách riêng Đằng Châu , 藤州 và Khoái Châu .
Thời Nhà trần (1225-1400)" Ðầu thời Trần, Vùng đất này thuộc đất của hai lộ Long Hưng và Thiên Trường. Về sau thuộc đất các lộ Long Hưng (nguyên lộ cũ) và Kiến Xương, An Tiêm (lộ mới do Thiên Trường tách ra), dưới lộ là huyện, hương xã.
Ðồng đất Thái Bình được hình thành dọc theo các triền sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý là những bờ bãi thuận tiện cho con người cư trú và trồng trọt. Với ưu thế của vùng đất ven biển phù sa màu mỡ nên đã cuốn hút cư dân khắp nơi về khai phá, lập làng. Có hai luồng cư dân chủ yếu vào tụ cư và hợp cư ở Thái Bình. Ðó là luồng cư dân từ miền bắc xuống và luồng dân cư từ nhiều nơi đi theo đường biển vào. Ðịa bàn tụ cư của những lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này là nơi gò cao, những sống đất cao của ven biển, phần lớn thuộc đất đai của huyện Hưng Hà
Thôn Tống xuyên qua các thời kỳ Lịch Sử:
Nhà Đông Hán (năm 25 – năm 226), Vùng đất này nằm trong vùng đất phía nam cuối cùng của huyện Chu Diên, quận Giao chỉ, nơi cuốn hút mạnh mẽ các luồng cư dân tràn về khai phá, lập làng. Với ưu thế của vùng đất ven biển, sông ngòi thuận tiện nên đã sớm trở thành nơi ẩn giấu, gây dựng lực lượng của nhiều thủ lĩnh nổi dậy chống quân Hán. Nhiều thần phả, câu đối ở đình, miếu thuộc các huyện , Hưng Hà, còn ghi rõ tên tuổi của những bà mẹ, những chàng trai, cô gái Thái Bình đã đứng lên dưới ngọn cờ đại nghĩa của bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục và tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. “Thôn Tiên La, xã Đoan Hùng huyện Hưng Hà”
Thế kỷ 6 (thời nhà Tuỳ - Lương bên Trung Quốc): Phần lớn đất đai Vùng này thuộc quận Vũ Bình, phần còn lại thuộc đất quận Ninh Hải. Ðịa thế nơi đây không hiểm trở như vùng núi cao, rừng rậm nhưng lại xa thủ phủ của bọn xâm lược nên tạo điều kiện để các cuộc khởi nghĩa bùng nổ mà điển hình là cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo., nơi nhen nhóm lực lượng đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa - nơi nhân dân đã góp xương máu xây dựng và bảo vệ nhà nước Vạn Xuân non trẻ.
Thế kỷ 7 thuộc Đất Châu Diên.
Thời Kỳ Tự chủ Ngô, Đinh, Tiền Lê là đất Đằng Châu , 藤州
Thời tiền Lê, nhà Lê đổi đạo làm lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ là hương. đổi là phủ Thái Bình 太羊府
Năm 1005,Lê Long Đĩnh đem quân đi đánh về qua, cho đổi châu làm phủ Thái Bình).
Thời Nhà trần (1225-1400)" Ðầu thời Trần, Vùng đất này thuộc đất của hai lộ Long Hưng và Thiên Trường. Về sau thuộc đất các lộ Long Hưng (nguyên lộ cũ) và Kiến Xương, An Tiêm (lộ mới do Thiên Trường tách ra), dưới lộ là huyện, hương xã.
Đời Trần là đất lộ Long Hưng 龍興路 và lộ Khoái Thời
- Lộ Long Hưng gồm 4 huyện :
- Huyện Thần Khê (sau là huyện Tiên Hưng)
- Huyện Duyên Hà
- Huyện Cổ Lan (sau là huyện Thanh Quan)
Nhà Hồ đổi Lộ Long Hưng Thành Phủ Tân Hưng 新興府
Thời Kỳ thuộc Minh (Thế Kỷ 14)là đất hai phủ Kiến Xương 建昌府 và Phủ Trấn Man.
- Phủ Trấn Man 鎮蠻府 Đổi từ Phủ Tân Hưng của nhà Hồ với các huyện sau :
- Huyện Duyên Hà.
- Huyện Cổ Lan.
- Huyện Thần Khê.
Thời Lê (thế kỷ 15-18) đất đai và làng xã Vùng này h được phân chia rõ ràng và cụ thể hơn trước. Theo ghi chép của Nguyễn Thiên Tích thì số làng xã của 3 phủ
Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nước chia làm 12 đạo thừa tuyên, Vùng Đất này thuộc thừa tuyên Thiên Trường. gồm 2 Phủ 9 Huyện Phủ Khoái Châu 快州 5 huyên: Kim Động, Đông Yên, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung
Phủ Tân Hưng 新興府 Đổi từ phủ Trấn Man nhà Minh Gồm 4 huyên: - Huyện Ngự Thiên “Nguyên là huyện Tân Hoá thời kỳ thuộc Minh”
- Huyên Diên Hà,
- Thần Khê
- Thanh Lan
Năm Hồng Đức thứ 21 Tháng 4 năm 1490 cả nước chia thành 12 xứ, Vùng Đất này thuộc xứ Sơn Nam.
Nhà Mạc đổi thuộc trấn Hải Dương. Đời Lê Trung hưng đổi lại như cũ (1578), sau chia Sơn Nam làm 2 lộ: phủ Khoái Châu thuộc Sơn Nam Thượng, phủ Tiên Hưng (cũ là Tân Hưng) thuộc Sơn Nam Hạ (Cảnh Hưng 2, 1741).
Phủ Tiên Hưng : gồm 4 huyện, 170 làng xã.
- Huyện Ngự Thiên : Gồm 51 làng xã. (Nguyên Là Huyện Tân Hoá) (*)
- Huyện Thanh Quan : 43 làng xã
- Huyện Thần Khê : 43 xã.
- Huyện Duyên Hà : 42 xã.
Ở thế kỷ XVII, Vùng đất này đã thực sự trở thành một đô thị sầm uất “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, các hoạt động của nền kinh tế hàng hóa đã tạo cho Phố Hiến một cảnh nhộn nhịp đông vui của cư dân địa phương cùng thương nhân nước ngoài. Thời đó Kinh thành Thăng Long có 36 phường, thì Phố Hiến có 20 phường, trong đó có tới 8 phường thủ công, đó là nét đặc sắc của Phố Hiến, làm cho Phố Hiến khác với đô thị đương thời. Sự xuất hiện của các phường thủ công đã thể hiện tính hoàn chỉnh của một đô thị trung đại. Phố Hiến thực sự là một “tiểu Tràng An”.
Thời Tây Sơn, Vùng đất được gọi là Trấn Sơn Nam hạ, về địa danh có thay đổi chút ít nhưng về đơn vị hành chính đại thể vẫn như thời Lê (Ví dụ đổi phủ Thái Bình làm phủ Thái Ninh).Đầu đời Gia Long vẫn theo cũ, đổi gọi là trấn.
Năm Minh Mênh 3 (1822), Sơn Nam Thượng đổi gọi là trấn Sơn Nam, Sơn Nam Hạ đổi gọi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mênh 12 (1831) chia đặt các tỉnh trong toàn quốc thành lập tỉnh Hưng Yên 興安省 gồm 2 phủ, 8 huyên.
- Phủ Khoái Châu gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ của trấn Sơn Nam)
- Phủ Tiên Hưng gồm các huyện Tiên Lữ, Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định)
Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở cả hai phía sông Luộc.
Ngày 21/3/1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình. Huyện Thần Khê , Hưng Nhân, Duyên Hà của Hưng Yên, cùng hai phủ Thái Bình, Kiến Xương của Nam Định về với tỉnh Thái Bình. Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tên tỉnh Thái Bình xuất hiện. Đó là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử Thái Bình, chứng tỏ vùng đất này đã phát triển đến mức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương.
Ngày 28/11/1894, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Tiên Lữ từ phủ Tiên Hưng sang phủ Khoái Châu; hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà sáp nhập vào tỉnh Thái Bình. Kể từ đây sông Luộc trở thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình
Phủ Tiên Hưng : 先興府
Đời Lý về trước là Hương Đa Cương
Nhà Trần là Lộ Long Hưng 龍興府 (vì nhà Trần có mộ tổ ở xã Thái Đường huyện Ngự Thiên).
Nhà Hổ đổi là phủ Tân Hưng 新興府
Thời thuộc Minh là phủ Trấn Man 鎭蠻府
Nhà Lê lấy lại tên cũ là phủ Tân Hưng 新興府
Đời Lê Trung Hưng, kiêng chữ Tân (tên của Lê Duy Tân, 1600-1619), đổi là phủ Tiên Hưng 先興府Từ đời Lê đến đầu Nguyễn, phủ Tiên Hưng gổm 4 huyện:
- Ngự Thiên đời Gia Long, năm 1808 đổi là Hưng Nhân.
- Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (1802 đổi Thanh Quan).
- Thần Khê
- Tiên Lữ Năm Tự Đức thứ 4 (1861) tách huyên Thanh Quan sang phủ Thái Bình (tỉnh Nam Định), nhưng lại hợp với huyên Tiên Lữ từ phủ Khoái Châu tách sang (Tiên Lữ thay Thanh Quan); từ đó đến đời Đồng Khánh vẫn gồm 4 huyên không đổi.
Huyện Diên Hà 12 tổng, gồm 114 xã, thôn, trang:
Huyên Diên Hà 延 河 縣 (cũng đọc là Duyên Hà): Tên huyên đặt từ đời Trần từ đời Lý). Thời thuộc Minh cũng gọi là huyên Diên Hà. Nhà Lê đặt thuộc phủ Tân Hưng (sau là Tiên Hưng). Qua các triều, đến đời Đồng Khánh không đổi. Từ 1891 tách sang tỉnh Thái Bình.
Huyện Hưng Nhân, 6 tổng , gồm 56 xã, thôn, trang: Theo dư địa chí đồng khánh
Huyên Hưng Nhân: Đời Trần tên là huyên Ngự Thiên 御天縣 thuộc Lộ Long Hưng. Thời thuộc Minh đổi là
Huyên Tân Hoá 新化 Phủ Trấn Man. Đời Lê lấy lại tên cũ là Ngự Thiên. Năm Gia Long 7 (1808) đổi là huyên Hưng Nhân 興仁縣 Sau đời Đồng Khánh tách sang tỉnh Thái Bình mới
Huyên Tân Hoá 新化 Phủ Trấn Man. Đời Lê lấy lại tên cũ là Ngự Thiên. Năm Gia Long 7 (1808) đổi là huyên Hưng Nhân 興仁縣 Sau đời Đồng Khánh tách sang tỉnh Thái Bình mới
1.Tổng Tống Súc, 8 xã, 1 trang:
1.Xã Tống Súc 2.Xã Phúc Tiên 3.Xã Phúc Hải 4.Xã Khánh Mỹ
5.Xã Nhân Xá 6.Xã Ngữ Khê 7.Xã Ngữ Thuỷ 8.Xã Khuông Phù
Trang Khả La
Xã Khuông Phù: Trước tên là xã Phù Ngự 扶御 ; sau năm Tự Đức 6 (1853) kiêng các từ tôn kính, đổi là Khuông Phù 匡扶
2.Tổng Hiệu Vũ, 8 xã, trang:
1.Xã Hiệu Vũ 2.Xã Đào xá 3.Xã Nham Lang 4.Xã Bái trạch: Thôn Hoà,
5.Xã Bái Trạch: Thôn quyên 6.Xã cầu công 7.Xã Yên Cầu 8.Xã Lưu XáTổng Hiệu Vũ: Trước tên là tổng và xã Hổng Vũ 洪武 từ 1848 kiêng chữ Hổng (Hổng Nhậm, tiểu tự của Tự Đức), đổi là Hiệu Vũ 頦武
1.Xã Hà lão 2.Xã Nhật tảo 3.Xã Ứng Lôi 4.Xã Phú Hoà,
5.Xã Lão Khê 6.Xã Phú Vật 7.Xã An Nghiệp 8.Xã Mai Lĩnh
9.Xã Thuý Lam
Xã Nhật Tảo: Trước tên là xã Nhật Cảo. Từ năm 1836 kiêng đổng âm chữ Cảo (biệt danh của Gia Long), đổi là Nhật Tảo 日早 .
Xã An Nghiệp: Trứơc tên là xã An Triền 安廛 ; từ 1843 kiêng chữ Triền (cận âm với tên huý vua Thiệu Trị), đổi là An Nghiệp 安業 .
1.Xã Thanh Triều 2.Xã Hải Triều 3.Xã Bùi Xá 4.Xã Hà xá,
5.Xã Mỹ Xá 6.Xã Thuỵ Vân 7.Xã Kiều Thạch 8.Xã Xuân Trúc
9.Xã Tây Xuyên 10. Thôn Quan Khuê.
5.Tổng Quan Bế, 7 xã,
1.Xã Quan Bế 2.Xã Lương Khê 3.Xã An Xá 4.Xã Tảo Sơn
5.Xã Lương xá 6.Xã Quan Hà 7.Xã Phú Khê5.Tổng Đặng Xá, 10 xã, 2 trang
1.Xã Đặng Xá 2.Xã Dương Khê 3.Xã Thái Đường 4.Xã Triêm Ân
5.Xã Dương Xá 6.Xã Tây Nha 7.Xã Thanh Nga 8. Xã Do Đạo
9.Xã Hưng Nhân 10.Xã Trác Dương 11.Trang Đồng nỗ 12. Trang Đồng vọng .
Xã Triêm Ân: Trước tên là xã Kính Ân. Từ 1862 kiêng chữ Kính, đổi là Triêm Ân 霞恩Dân Hưng Nhân phần nhiều điêugian hung hãn. Các việc cưới xin ma chay cũng theo như lệ thường. Nghi lẽ thờ thần cúng Phật cũng đều theo tục lệ, không xa hoa phí phạm lắm.
Sản vật: ít lúa hè, nhiều lúa thu. Hàng năm, sau vụ gặt, thường trổng xen khoai, đậu, cà, mía, đay, bông, địa tiên, chuối, cau, cam, mít. Trong vườn nhà dân thường trổng cây chè bạng, nhưng không được ngon
lắm. Nghề dệt chiếu cói thì ở 3 xã Xuân Trúc, Kiều Thạch, Quan Khê tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân.
- Hưng Hà (Hưng Nhân và Duyên Hà hợp thành),
- Ðông Hưng (Ðông Quan và Tiên Hưng hợp thành),
- Quỳnh Phụ (Quỳnh Côi và Phụ Dực cũ),
- Vũ Thư (Vũ Tiên và Thư Trì), Kiến Xương
- Tiền Hải.
Năm 1957 Xã Thái Hưng đươc thành lập theo Quyết định. 485/1957/QĐ-TCCP Gồm 8 thôn Tân Dương, Thôn Đồng Vọng, Thông Dương Xuân, Thôn Tống Xuyên, Thôn Chiềng, Thôn Trại, thôn Phú Ốc
Theo những tư liệu đã nêu ở Trên thì địa danh này đã xuất hiện cách đây trên dưới 1000 năm. Năm Nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc còn ghi dấu ấn tại Tống xuyên. Về mặt di tích, nơi đây còn một quần thể trải đều liên hoàn trong tất cả các thôn với đủ loại hạng mục như đình, chùa, đền, phủ, miếu, am, quán, lăng mộ, nhà thờ danh nhân, Trải qua nhiều biến cố lịch sử, từng thành tố đơn lẻ của thôn cổ có bị thay đổi và có niên đại xây dựng không sớm, nhưng về tổng thể, khu vực này vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian thôn của một thôn cổ thuần Việt.
Vũ Gia Tường Tham Khảo Nhiều sách trong đó có Đồng Khánh Dư Địa Chí
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)