Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

Hoc Thuyết Buông Xả (P6)

Vì mỗi con người là một ”tiểu vũ trụ” với “cái tôi” to đùng nên thu nhập tri thức cũng có nhiều điểm khác biệt, do vậy xảy ra tranh luận. Dù việc tranh luận không đi đến xung đột tay chân nhưng tác hại của nó vẫn giông như đã “đấu đá” nhau, thậm chí còn lâu dài hơn cả khi chúng ta nổi nóng đấu đá bằng tay chân. Các hiền sĩ từ Đông sang Tây đều đồng ý một điều: đó là tranh luận không hề đi đến thống nhất bao giờ và cũng không bên nào có thể thuyết phục được bên kia bởi vì trước khi xảy ra tranh luận thì hai bên đã hình thành ý tưởng chắc chắn rồi. Thoạt đầu họ có thể đưa ra quan điểm của mình, hy vọng đối phương sẽ chấp nhận. Thế nhưng càng tranh luận thì bản ngã cố hữu càng có dịp phát triển và người ta bắt đầu gân cổ trợn mắt cố hết sức để tìm phần thắng cho mình. Khi ấy tâm tư hầu như đã dồn hết vào việc làm sao “phải thắng”, không còn sáng suô't nhận ra những sai lầm mà đôi phương nêu ra, dần dần đi đến chỗ kịch liệt, không ai chịu ai nữa.
Tranh luận hay tranh cãi bằng lời nói, bằng lý lẽ xác đáng đến mấy cuối cùng đều đi đến chỗ bế tắc mà thôi. Không tranh cãi, để tự người ta suy xét và nhận ra sai lầm chính là “quẳng gánh lo đi” ngay từ lúc “gánh lo” chưa tới. Đó cũng là sự Buông Xả của Phật giáo trong một chừng mực nào đó
Tránh xa sự nóng giận: Không phải riêng Phật giáo mới chủ trương đừng bao giờ nóng giận mà hầu hết các hiền sĩ trên thế giới này đều đưa ra những lời khuyên tha thiết với việc con người rất hay nóng giận. Theo họ thì nóng giận chính là nguồn gốc gẫy ra chia rẽ và hận thù nhiều nhất của con người. Đối với Tây phương, “nóng giận” là trạng thái tâm lý bình thường cũng như Yêu, Ghét, Buồn, Vui nên không thể diệt trừ hoàn toàn mà chỉ có thể dùng phương pháp kềm chế bớt phần nào hay phần đó, giúp cho con người được bình yên trong tâm hồn.
Thế nhưng “nóng giận” không chỉ là tâm lý đơn thuần mà nó chính là sự kết hợp của nhiều yếu tô", trong đó phần lớn bắt nguồn từ bản ngã “chấp trước” và kéo theo nhiều hệ lụy bi thảm. Đối với Phật giáo, “nóng giận” chính là độc dược nguy hiểm vào loại thứ hai sau lòng tham (Tham, Sân, Si), một đánh giá đúng đắn hơn những gì Tây phương đề ra.
Phương pháp của Tây phương kềm chế nóng giận rất đơn giản, chẳng hạn khi có cảm giác mình đang “nổi giận” thì nên hít một hơi thở sâu, hoặc là bỏ đi chỗ khác, sau khi cơn giận nén xuống mới bắt đầu suy xét sự việc và có cách ứng xử phù hợp. Thực tế cho thấy người ta đều biết những phương pháp này nhưng đồng thời chẳng bao giờ kềm hãm được nóng giận. Nóng giận giông như “ngọn núi lửa” bùng phát dữ dội, không kịp kềm chế hoặc không thể dập tắt chỉ bằng một hai phương pháp đơn thuần. Do vậy dù Tây phương đưa ra khá nhiều lời khuyên, tính cách nóng giận ở con người vẫn không bị triệt tiêu mà hình như càng “chấp mê” bao nhiêu thì người ta càng dễ nóng giận bấy nhiêu.
Tóm lại dù là phương pháp nào cũng chỉ nhất thời kềm chế “chấp trước” một cách tạm bợ mà thôi. Mãi đến khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện nơi Ấn Độ mới có một học thuyết mới là Buông Xả, giúp cho người ta triệt tiêu hoàn toàn “chấp trước”. Giáo lý của Đức Phật cũng đồng thời tiêu diệt hoàn toàn trạng thái bản ngã của con người như Hỉ, Nộ, Ai, o bằng lòng Từ Bi Vô Lượng, trong đó bao gồm cả một “phương pháp” tuyệt diệu, đó là Buông Xả để không còn bất cứ Chấp Trước nào nữa
Buông Xả Đối trị với chấp trước
An lạc trong cuộc sống, bươn chải vì sinh kế nhưng mong muôn tâm hồn được thong dong nhẹ nhàng chính là niềm mơ ước muôn đời của con người. Thực tế cho thấy hầu như tất cả, từ chính khách cho đến các nhà lãnh đạo tông giáo đều nhấm vào mục đích giúp cho loài người có Được một cuộc sông yên bình và hạnh phúc. Tiếc rằng đa số các chính khách đã hướng quá nhiều về danh vọng và quyền lực, lấy hai chữ “hạnh phúc cho nhân loại” làm bình phong để hoạt động, thực chất họ không giúp gì cho loài người được yên bình mà có khi còn dựa vào mục tiêu giả trá ấy để gây ra những cuộc chiến tranh tương tàn
đẫm máu.
Còn người bình thường cũng không khác mấy, ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường hay mới bước ra đời đều mang nặng trong tâm ước mơ phải đạt được càng nhiều thành công vật chất lẫn tinh thần càng tốt. Cuộc sông do đó rẫy đầy đau khổ và phiền não. Ngay từ khi loài người mới thành lập xã hội, tính cách “chấp trước” càng gia tăng khiến cho các hiền triết từ Đông sang Tây ra sức dề ra các phương pháp giúp cho con người kềm hãm bớt “chấp trước”, tạo dựng một cuộc sông thanh thản an lạc trong tâm hồn. Tất cả những phương pháp ấy chỉ có tác dụng phần nào, mãi cho đến khi Đức Phật thị hiện và truyền bá giáo lý thì người ta mới nhận ra chỉ có hạnh “Buông Xả” mới có thể giúp con người thoát khỏi chấp trước hoàn toàn.
Tuy nhiên không phải ai cũng có thể thực hành “Buông Xả” bởi trước nhất phải tu tập một tâm Từ Bi
làm nòng cốt, từ đó hạnh Hỉ Xả mới phát triển và
buông bỏ được chấp trước. Như vậy Buông Xả là gì?
Thực hành như thế nào?
Rất nhiều sách vở nhà Phật đã đề cập tới nhưng luôn luôn vẫn là niềm mong muôn của các Phật tử thành tâm học hỏi và tu tập. Thật tế, Buông Xả chính là Buông Bỏ, tức là Buông Bỏ mọi phiền não từ bên ngoài và cả bên trong. Phiền não và chấp trước giống như lớp sương mù dơ bẩn bao bọc lấy bạn, làm cho tâm tư bạn phiền não không nguôi và nhìn sự việc với đôi mắt mờ ám, dẫn tới hành động sai lạc, dù thật tâm bạn không muốn thế. Chỉ khi nào bạn Buông Bỏ được tấm màn u ám đó bằng tính cách Từ Bi thì mới hiểu
được hạnh phúc là gì và từ đó bạn sẽ có một cuộc đời
an lạ
Thật tế, an lạc và đau khổ chính là hai mặt của một vấn đề. Không có khổ đau thì sẽ không có an lạc, vì vậy hãy nhìn cuộc đời bằng đôi mắt sáng suốt, nhận ra những khổ đau thì tất nhiên sẽ dễ dàng hiểu được sự an lạc phải như thế nào. Trước kia có một hiền triết đã thử xem, cứ mỗi lần cảm thấy tức giận và đau khổ thì liền bỏ một hạt dậu đen vào cái bình, mỗi lần cảm thấy hạnh phúc thì bỏ một hạt đậu xanh vào một cái bình khác. Đầu tiên số đậu đen nhiều hơn sô" đậu xanh, hiền triết nhận ra rằng mình đã còn chấp nhất quá nhiều sự việc trên cuộc đời, dẫn đến những đau khổ. Ông quyết tâm buông bỏ những chấp trước ấy, dần dần sô" đậu xanh tăng lên
và sau cùng số đậu đen thì vẫn như cũ. Ông đã thực hiện
được cuộc sông an lạc cho đời mình. Đau khổ và an lạc
luôn luôn tỷ lệ nghịch với nhau.
Một triết gia thiên về tông giáo là Krishnamurti nói rằng: “Mỗi ngày bạn hãy tự tìm một nơi yên tĩnh, chỉ cần mười phút thôi, tạm quên đi tất cả những lo âu buồn khổ của cuộc sông bằng cách buông bỏ tất cả, từ tinh thần tới vật chất. Bạn hãy lắng nghe hơi thở của mình và khách quan nhìn nhận sự việc trong ngày đó mà không suy nghĩ, không xét đoán bằng cách hòa mình vào với thiên nhiên, hãy nghĩ đến những điều tốt... hãy mỉm cười với bất cứ sự việc gì xảy ra đôi với mình, cho dù sự việc ấy có tổn hại đến mấy đi nữa. Kiên trì cố gắng giữ vững những giây phút yên tĩnh như vậy, một thời gian sau bạn sẽ nhìn” được chính mình và hoàn toàn thanh thản trong nội tâm”.
Thiên nhiên ban tặng cho loài người một món quà cực kỳ quý giá là “nụ cười”, không loài động yật nào có được kể cả loài “vượn người” rất gần với chúng ta. Tại sao chúng ta không sử dụng “món quà đặc biệt” này để tạo cho cuộc sông được tươi vui và chính chúng ta cũng được thanh thản bởi vì dù gặp bất cứ sự việc gì, nụ cười cũng sẽ đánh tan hết những giận hờn tức tối. Trong cuộc sông thường nhật, nếu khi gặp vài ba va chạm nhỏ như quẹt xe, dẫm nhầm chân người khác, v.v... chỉ cần một nụ cười
và thêm vào lời xin lỗi là tất cả đều xong. Tiếc rằng cuộc
sông càng ngày càng có nhiều băn khoăn lo toan, tâm tư của eon người mỗi ngày thêm chia rẽ về các học thuyết kinh tế, xã hội, chính trị rồi đến cả sự chia rẽ về tín ngưỡng nên hình như con người đã quên mất “nụ cười”, nét mặt bao giờ cũng hằn sâu vẻ đăm chiêu khó chịu làm mất đi sự tươi tắn trong ứng xử.
Có thể thấy hình tượng Đức Phật hầu hết đều được thể hiện với một nụ cười nhẹ nhàng, thâm trầm mà nhân ái khiến người ta vừa nhìn vào đã thấy trong lòng ít nhiều cởi mở thanh thoát. Đó là không kể Phật Di Lặc trong tương lai với nụ cười “rộng mở” đến tận mang tai. Phải chăng đó là “thông điệp” của các ngài, cho biết chỉ có nụ cười mới cứu độ cho thế gian thoát khỏi cảnh khổ đau?Bạn chưa phải là người xuất gia, tức là chưa thể Buông Bỏ được cuộc sống thế gian, còn phải hứng chịu
biết bao nhiêu áp lực mưu sinh và những ma chướng từ
đâu đưa đến. Chắc chắn bạn không thể kềm hãm được sự chấp trước và nóng giận mỗi khi tâm tư chưa được bình tĩnh. Dù bạn đã tu tập ít nhiều nhưng những ma chướng trong cuộc đời thiên biến vạn hóa, không thể nào nhìn thấy trước được do nguyên nhân gì đưa đến và nhiều lúc rất bất ngờ khiến bạn không sao còn đủ suy nghĩ để kềm chế tâm tư. Thế là xung đột xảy ra và dù thắng hay thua, khi việc đã xong, về tới nhà bình tâm xem xét lại bạn mới thấy hối hận. Có thể sự việc ấy làm người khác bị
tổn thương hoặc chính bạn bị tổn thương bởi “cái tôi” của
mình luôn luôn đòi hỏi phần thắng.
Một lần ra đường, bạn đi rất đúng luật giao thông, bất chợt một người nào đó rú ga vượt qua mặt, suýt nữa đã làm bạn ngã. Hắn đã không có lời xin lỗi mà còn ngoái đầu lại sừng sộ mắng một câu: “Không biết đi xe hay sao?”. Tất nhiên trong giây phút đầu tiên bạn sẽ phát khởi nóng giận nhưng rất mau kềm hãm được bởi biết rằng hắn chắc chắn là kẻ côn đồ hung hăng không ra gì, tranh cãi hay gây gổ với hắn chỉ thua thiệt mà thôi. Bạn lẳng lặng bỏ qua nhưng trong lòng hơi bực tức. Vậy là
bạn đã là người biết kềm chế sự nóng giận và hành xử
đúng đắn.
Thế nhưng, nếu ngay lập tức bạn nghĩ đến sự ngu
muội của hắn, trong lòng cảm thấy thương hại cho kẻ vô
minh mà còn hung hăng, tự nhiên bạn sẽ không còn chấp nhất nữa và cũng không ghi chút nào trong tâm khảm. Cao hơn nữa, bạn nhận ra ngay hắn chính là kẻ quá đau khổ với cuộc sống, tâm trí điên cuồng vì những thất bại nên mới phóng xe bạt mạng như vậy, chắc chắn bạn sẽ “không nghe” được câu nói mang tính cách gây hấn của hắn mà sẽ nở một nụ cười dáp trả. Nụ cười ấy có thể là
dấu hiệu thân thiện, sẵn sàng bỏ qua sự gây hấn, tha thứ
cho hắn mà cũng có thể là nụ cười cảm thương cho cuộc
sông vô minh của hắn.
Nhận được nụ cười của đối phương, chắc chắn hắn sẽ ngơ ngác rất lâu, nếu là người thiếu hiểu biết thì sẽ không hiểu nổi tại sao người ta lại cười với mình; nếu là người có chút hiểu biết thì trong tâm hồn hắn sẽ khởi phát ít nhiều hối hận Ỷà từ đó trở đi có lẽ hắn sẽ không còn những thái độ như thế nữa.
Đó mới chính là sự “Buông Xả” hoàn toàn, không những giúp cho tâm mình không bợn nhơ mà còn có thể khiến cho người ta phải suy nghĩ lại. Chúng ta cần phải Buông Xả, cần phải biết tha thứ lỗi lầm của người khác thì tâm mới có “chỗ trống” cho niềm hạnh phúc an lạc trú ngụ. Tha thứ không có nghĩa là xóa bỏ được sự việc đã xảy ra rồi, cũng có thể không mang tính cách sửa đổi của người khác nhưng ít nhất cũng làm cho bạn tthoát khỏi sự đau khổ, giận tức, làm tiền đề cho tâm tiến dần đến Buông Xả hoàn toàn với lòng Từ Bi chân thật. Buông Xả sẽ đối trị với Chấp Trước, tiêu diệt Sân Hận nên Phật giáo rất chú trọng khuyên bảo người ta cố gắng tu tập được đức hạnh này. Tuy nhiên như đã trình bày, con người vốn có “chấp ngã” rất mãnh liệt, vì thế nhất thời có thể “quẳng gánh lo đi” nhưng Buông Xả hoàn toàn phải là không còn ghi dấu chút nào trong tâm thì lại là vấn đề khá khó khăn, cần đến sự kiên nhẫn lâu
dài. Đó là một “nghệ thuật” mà khi bạn đạt tới sẽ thấy
rõ Niết Bàn chính là nơi cuộc sông này chứ không phải nơi chôn hoang tưởng nào khác.
Buông Xả không phải là tiêu trừ hết những vật chất thế gian, cũng không phải là từ chối hình tướng, vẫn chấp nhận những gì đang hiện diện nhưng không hề ghi nhớ vào tâm trí. Khi nào bạn nhìn một người không thấy tâm xáo động vì vẻ xinh đẹp của người ấy, cũng không biết là xấu, không nghĩ đến hèn hạ hay sang trọng: tai nghe một bản nhạc, cảm nhận được từng nốt nhạc, nhưng cuôì cùng chúng ta không ghi vào tâm là bản nhạc ấy hay hoặc dở, không có ý kiến chê bai hay khen ngợi, cũng không vì vậy mà buồn rầu hay vui sướng, đó là bước đầucủa Buông Xả rồi vậy.
Không chất chứa bất cứ sự việc hay tư tưởng nào vào tâm chính là tiến trình tu tập của hạnh Buông Xả giống như bài thơ của Thiền sư Hương Hải (1628-1715) đã cảm tác tính cách biết Buông Xả một cách nhẹ nhàng như sau: Nam đài tĩnh tọa nhất lô hương.
Chung nhật ngưng nhiên niệm lự vong.
Bất thị tức tâm trừ vọng tưởng,
Đô duyên vô sự khả tư lương.
Dịch xuôi:
(Đài Nam tĩnh tọa cạnh một lư hương.
Suốt ngày tâm vong bặt mọi Ịo nghĩ.
Không do chặn tâm để ngăn trừ vọng tưởng,
Chỉ do thấy không có vấn đề gì đáng phải quan tâm)
Trạng thái bình an, vắng lặng, suốt ngày không một
vọng niệm, không phải do hành giả dụng công ngăn chặn tâm lăng xăng, cố sức tiêu trừ vọng tưởng, mà do hành giả nhận thấy toàn bộ những vọng niệm này là hoàn toàn hư huyễn, không giá trị, tuyệt nhiên không cần quan tâm tới. Buông Xả cũng giông như vậy, càng cố sức ngăn chặn nhiều khi càng làm cho tâm chúng ta thêm rối loạn, chỉ cần nhận thức được bất cứ việc gì trên thế gian này đều không đáng phải quan tâm tới là những vọng tưởng, chấp trước dần dần sẽ bị tiêu diệt.

ST........

Tổ Chức Của Họ Và Tình hình Hiện nay

Tổ Chức Của Họ Và Tình hình Hiện nay
Họ hiện nay ở thôn Tống xuyên xã Thái Hưng huyện Hưng Hà có 2 Chi, Một chi ở Bắc Giang, một chi Đông Anh, Một Chi Hỷ Tước, Một Nhánh tứ kỳ Hải Dương,
- Có hội đồng Gia Tộc gồm : Một Phụ Trách trung 9 Uỷ viên Phụ trách Quỹ của các Chi Vũ Doãn, Vũ Đức, Vũ Văn, và một số các cụ cao tuổi trong họ

- Theo biên dịch của Ông vũ Đức Hàm đời Thứ 9 Gia Phả họ Vũ xã Tống súc, Tổng Tống Súc Huyện Hưng Nhân (theo sách Dư địa chí Đồng khánh )

Biên soạn Năm kỷ mão 1819 Đời vua gia Gia Long.
Tu tạo lại năm Tân tỵ 1821 đời Vua Minh Mạng.
Tục Biên Năm Canh Tuất 1910 đời Vua  Duy Tân.
Chuyển Ngữ từ chữ Hán Sang chữ Quốc ngữ năm 2001. gia phả gốc gồm 80 trang chữ hán

Dự Định sẽ hợp biên Thế phả năm 2020.
- Nhà thờ họ được xây dựng vào năm 2008.
- Mộ tổ cũng được xây dựng năm 1997
+ Tính đến nay là đời thứ 13
- Tổng số hộ : ở quê là …. xa quê là …. tổng là….
 -Tổng Số Đinh : 200


Số người họ Vũ xuất phát từ thôn tống xuyên hiện đang sinh sống tạo Hà Nội, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương.Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng tàu, Yên Bái, Điện Biên, Quảng Ninh, Hoà Bình,
Trình độ học vấn và các tiêu chí khác.
- Đại Học : 26,Tiến Sỹ : 01 , Nhà giáo ưu tú: 01,Bộ đội công an (cấp tá): 05 trong đó đại tá 01. Liệt sỹ : 02, Đảng Viên : 22 Hưu trí : 17


Về công tác khuyến học
Quỹ khuyến học của họ được thành lập năm 2011
- Tổng quỹ là : 000.000.0000 đ
- Đã chi thưởng cho học sinh giỏi từ 2012 là:
- …...học sinh đỗ đại học.
- ….. học sinh giỏi cấp thành phố.
- …...học sinh giỏi cấp huyện.
- …...học sinh giỏi cấp cơ sở
+ Về công tác xã hội:
- Trong họ luôn vận động các gia đình và con cháu thực hiện nếp sống văn hóa, chấp hành chính sách Pháp Luật của Nhà Nước, đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau.
- Thực hiện nếp sống mới trong việc hiếu hỷ.
- Không có người hiện hút, không có người sinh con thứ 3
- Tham gia đóng góp công đức cho các công trình của làng, xã.
- Tổ chức mừng thọ cho các cụ cao tuổi trong họ
-Tổ chức lập hội con cháu họ vũ Hà Nội.
Con cháu được phồn vinh thịnh vượng là nhờ có Phúc ấm của Tổ Tiên,
Tiên Tổ là nguồn gốc của con cháu,
Người có tiên tổ như cây có gốc, nước có nguồn cội.
Cây có gốc mới nẩy cành xanh ngọn,
Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu.

Trong họ luôn luôn nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ rằng từ thuở ban đầu đã có nhiều công lao đắp nền xây móng sinh cơ lập nghiệp, chăm sóc chồi nhân, vun chồng cây đức để giữ gìn kỷ cương đạo lý duy trì nếp sống gia phong, nêu cao chí khí sáng ngời tâm hồn bình dị, giữ chọn tấm lòng trong trắng, phẩm chất thanh cao, phát triển văn chương mở mang học vấn. Lấy cần kiệm liêm chính làm phương pháp tề gia, lấy nhẫn lại ôn hòa làm phương châm xử thế, truyền lại cho con cháu từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ kia, ngày thêm hiển đạt, đức hạnh rồi dào, ngàn năm thịnh vượng, muôn thuở phồn vinh. Đó cũng chính là nhờ có phúc ấm và sự độ trì của các bậc tiên tổ.
Cũng vì vậy trong họ Vũ  luôn luôn ghi nhớ và phát huy xây dựng dòng họ ngày càng phát triển như những điều mà các bậc tiên tổ mong muốn.
Cũng chính vì vậy con cháu chúng ta càng thấm nhuần hai chữ Tổ Tiên
Phúc Tổ dài lâu muôn thuở thịnh
Nếp nhà êm ấm bốn mùa xuân!


Vũ Doãn Tịch, Vũ Gia Tường !

Ghi Chú: trên đây là những thông tin chưa được cập nhật tính đến 05-2013, nếu ai có thêm thông tin xin gửi về địa chỉ : hoạc ghi vào muc nhận xét của trang Web.

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Hình Thái Chấp câu nệ (P5)

 
Chấp nhất là tính cách câu nệ, thiên hẳn về một bề nào đó, không quyền biến hay thay đổi, không nhận ra sự sai lầm của mình. Tâm Chấp Kiến

Chấp nhất chính là sự kết hợp giữa “cái tôi” với tính cách u mê không nhận biết được đúng sai rồi nhất quyết giữ chặt nó, không thay đổi nữa. Thực tế trong cuộc sống chúng ta rất dễ nhận biết người có tính chấp nhất, bởi mỗi việc, mỗi lời nói không vừa ý, lập tức họ phản đối dữ dội ngay, không cần suy xét hay lắng nghe sự biện giải của người khặc.
Chấp chướng là sự ngăn che của tính cách chấp nhất, chấp kiến.
Theo Phật giáo thì có hai đầu mối.Một là cái chấp của bản ngã gây ra nhiều nỗi đau khổ, uất ức, bận tâm, lo lắng, v.v..., một là cái chấp do không nhận thức được mọi sự vật đều là hư ảo, do
nhân duyên mà hình thành nên cứ cho rằng tất cả đều
là thật, khiến cho kiến thức bị sai lạc hoàn toàn. Tiếc rằng vật chất trên thế gian có sức mạnh vô cùng, làm cho người ta cắm đầu chạy theo mà không bao giờ nghĩ đến những vật chất ấy đều là giả tạo, là vô thường, chết rồi không mang theo được gì ngoài cái Nghiệp phải trả
cho những hành vi đã tạo tác để chiếm đoạt vật chất ấy
mà thôi.

Chấp kiến là tính cách nắm chặt lấy những kiến thức sai lạc do mình đã thu nhận làm nền tảng xây dựng cuộc sống.
Rõ ràng chấp kiến đến một mức độ nào đó thì “cái tôi” xâm chiếm toàn bộ tâm trí của con người, trong đầu óc chỉ còn lại hai chữ “tự kiêu”, tự coi mình là người “duy nhất” trong thiên hạ vừa trong sạch vừa tỉnh táo. Tiếc rằng người ta càng học rộng, kiến văn nhiều thì càng kiêu ngạo. Thế nên họ không thể làm theo câu hát của ngư ông, là người sống theo bản ngã tự nhiên của trời đất, đó là: (Nước Tương giang trong trẻo thì ta giặt giải mũ; nước Tương giang đục thì ta rửa chân).

Có thể thấy không ít người có học thức đầy đủ vẫn sa vào hành động sai lầm do quá chấp kiến, câu nệ vào sách vở. Thời Xuân Thu chiến quốc, Mạnh Tử nổi tiếng là hiền nhân chỉ kém Khổng Tử một bậc, thế mà khi tông táng cho mẹ không hề tiếc tiền bạc, tổ chức nghi thức quá rườm rà, cho đóng quan quách hết sức chắcchắn, quan bằng gỗ tốt dày đến nửa thước, quách dày hơn thước. Một thước Trung Hoa cổ chỉ khoảng 40cm thước Tây, nghĩa là rất dày so với ngày nay nhưng có thể giữ mãi thi thể của người mẹ ông ta yêu quý được chăng? Hay cuối cùng thân thể cũng phải theo định luật muôn đời, biến thành cát bụi? Thế nhưng Mạnh Tử cương quyết tiến hành tống táng mẹ mình như vậy khiến không ít đệ tử thắc mắc, hỏi thì Mạnh Tử thản
nhiên đáp: “Đó là lễ nghi của người xưa để lại, sao ta
lại không theo?”. Một câu trả lời hoàn toàn chấp kiến, đến độ mê muội chẳng còn chút sáng suốt của hiền nhân nữa! Nghi lễ ấy quả nhiên do người xưa đặt ra nhưng so với thời hậu thế thì còn đúng hay sai, sao cứ phải khư
khư giữ lấy những gì lỗi thời của tiền nhân? Nếu tất cả
đều quyết tâm giữ gìn tục lệ cổ xưa, ái cũng muốn báo đền chữ hiếu bằng việc tống táng quá long trọng như vậy thì thế gian đào đâu ra gỗ tốt để đủ cung ứng? Mẹ của thầy chết thì các học trò phải chung lưng làm tang ma, nếu như cứ chấp nhất lễ nghi đã lỗi thời của người xưa, bày vẽ ra thêm thì tốn kém cho họ biết bao nhiêu?Cứ giữ mãi những gì tiền nhân để lại thì xã hội còn tiến bộ được như ngày nay không?

Cùng thời kỳ ấy, một thánh nhân khác là Trang Tử lại có cách cư xử khác hẳn:

Lúc ông sắp chết, các môn sinh của ông bàn nhau định làm đám tang thật lớn cho xứng với tên tuổi của ông. Trang Tử liền nói: “Ta lấy trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, tinh tú làm chuỗi hạt châu. Đồ tông táng đã có muôn vật như vậy, tang sự của ta chẳng lẽ còn không đủ sao? Các trò cần gì phải làm cho rình rang hơn nữa!” Các môn sinh lo lắng đáp: “Chúng con cũng biết vậy nhưng nếu làm sơ sài quá, táng thầy ngoài đồng thì tránh sao được diều quạ rúc rỉa thân thể của thầy?”. Trang Tử nghe vậy cười mà nói: “Thi thể người để trên đất thì diều quạ nó rúc rỉa; chôn dưới đất thì trùng bọ ăn. Bây giờ các trò cướp của loài này cho loài khác ăn, sao các ngươi có lòng dạ thiên lệch thế?

 Lòng người mà thiên lệch thì không công bằng, đem cái không công bằng mà cho là công bằng thì cái công bằng này không phải là công bằng thật sự vậy. Cái tâm của người mà không sáng thì chẳng thành thật, đem cái chẳng thành thật mà cho là thành thật thì cái thành thật ấy đâu phải là thành thật. Ôi! Người ta cứ khăng khăng giữ cái chẳng thật, chẳng phải là đáng thương lắm sao?”.

Tuy lúc ấy Phật giáo chưa truyền đến Trung Thổ nhưng ý nghĩa lời nói Trang Tử đã bao hàm lẽ Vô Thường của kiếp sông con người. Đã hiểu ra Vô Thường thì sẽ không bao giờ còn tâm chấp trước bất cứ điều gì nữa. Người ta chết rồi, dù tông táng cách nào đi nữa thì rốt cuộc cái thân Ngũ Uẩn cũng tan rã thành cát bụi, sao lại phải chấp trước đến mức muốn giữ mãi cái vốn là Vô Thường ấy như Mạnh Tử đã làm?

Một câu chuyện khác, cũng của một nhân vậy nổi tiếng về văn học, đó là Tăng Sâm. Tăng Sâm được hậu thế biết đến với bài học bất cứ việc gì dù hoang đường đến đâu nếu được nhiều người nhắc đi nhắc lại thì vẫn có thể khiến cho người ta tin rằng đó là sự thật. Câu chuyện “Tăng Sâm giết người” đã đi vào văn học sử nhưng chính cuộc sông của ông ta lại cho chúng ta thấy rõ tính cách chấp kiến của người xưa nặng nề hơn bây giờ rất nhiều: “Một lần Tăng Sâm theo cha đi làm ruộng dưa, lỡ tay bừa mất một số rễ cây. Cha Tăng Sâm là Tăng Tích giận dữ lấy gậy đánh vào lưng ông ta một cái thật mạnh.

Tăng Sâm đau quá ngã gục xuống chết điếng đi một lúc mới tỉnh lại. Tuy vậy, Tăng Sâm là người con hiếu nên không hề trách giận cha, còn xin lỗi đã làm cha giận, sau đó ông vừa đàn vừa hát để tỏ cho cha biết mình không còn đau đớn nữa. Khổng Tử nghe chuyện ấy liền nói với các trò cấm không cho Tăng Sâm đến trường học nữa. Tăng Sâm không hiểu
vì sao, nhờ bạn đến hỏi thì Khổng Tử giải thích:

Xưa vua Thuấn hết lòng hiếu thảo với cha là cổ Tẩu nhưng khi cha nổi giận muôn đánh giết thì tìm cách tránh xa. Vì thế Cổ Tẩu không bị mang tiếng bết từ với con mà Thuấn cũng không vì thế mà mang tiếng bất hiếu. Nay Tăng Sâm hiểu sai chữ hiếu, để cha đánh đến nỗi ngất đi. Nếu như chết rồi thì tất cha phải bị tội, như vậy còn gì bất hiếu hơn nữa? Sao không biết tránh đi mà vẫn giữ vẹn chữ hiếu?

Tăng Sâm nghe vậy mới hiểu ra sự chấp nhất đạo lý chữ "hiếu" của mình đã sai lạc, liền đến tạ lỗi cùng Khổng Tử”.

Cố Chấp Không nhận ra.

Trong kinh Phật có nhắc đến “chấp mê bất ngộ”, tức là người đã cố chấp một cách u mê thì chắc chắn không thể nào “ngộ” được đạo pháp. Thực tế cho thấy không ít Phật tử mang tâm trạng châp mê mà cứ tưởng rằng mình là “con của Phật chân chính”. Họ thường đi chùa lễ lạy, thậm chí rất chăm chỉ nghe thuyết pháp, miệng luôn luôn nhắc tới “Sắc Sắc, Không Không”, thật ra chỉ để lòe người và tự dối mình và cho thế là đủ, là đã có tu hành, trong khi vẫn chưa trút bỏ được Tham, Sân, Si đối với dời. “Sắc Sắc, Không Không” của Phật giáo mang ý nghĩa cao thâm huyền diệu, đâu có thể chỉ vài ba lời nói ngoài miệng đã “ngộ” được đạo lý này. Còn có kẻ ngỡ rằng Phật hay Bồ Tát đã đắc đạo thì quyền phép vô biên, có thể vượt qua ngoài giới hạn thông thường, có thể ban tặng vật chất tiền tài, danh vọng nếu như cố gắng cầu xin. Do vậy mỗi khi đi chùa hay hành hương, những người này vô cùng “hỉ xả”, sẵn sàng cúng dường  'liều tiền bạc hay vật thực cho nhà chùa với hy vọng sẽ được Bồ Tát, Phật “đền đáp” xứng đáng, nhưng đôi với người nghèo khổ thì họ có suy nghĩ sai lầm rất đáng chê trách, đó là họ nghèo khổ bởi kiếp trước đã mang ác nghiệp, phải để cho họ trả hết ác nghiệp ấy chứ không nên cứu giúp!

Những người “chấp mê” không bao giờ nghĩ tới làm việc thiện mới chính là viên gạch xây dựng nền móng hạnh phúc cho mình, không một vị Bồ Tát hay Thần Phật nào đủ thần thông cứu độ cái tâm còn quá thiên về tham muốn thê gian. Trong thực tế xã hội, chúng ta có
thể thấy rất nhiều người thiếu tri thức, học lóm học vẹt
được một số điều trên báo chí hay nghe người khác nói, lập tức ghi vào tâm khảm mà không suy xét xem điều ấy thực sự đúng hay sai, có còn hợp thời nữa hay không? Có
người được bạn bè gọi là “luật sư” bởi vì bất cứ cái gì cũng
cãi, cãi cho bằng được ý mình mới thôi, mặc dù bằng cấp
không có, kiến thức cũng thô thiển chắp vá. Những mê
lầm về kiến thức sẽ làm cho con người càng thêm đau
khổ bởi những thất bại trong công việc.

Hình Thái Chấp Tướng (P4)

Chấp tướng là tin tưởng và nắm giữ khư khư về các hình tướng của thế gian dù tất cả chỉ là vô thường và hư huyễn.

Thực tế cho thấy “chấp tướng” là trạng thái rất phổ biến con người bởi hình tướng là thứ biểu lộ ra ngoài, ai cũng nhìn thấy rõ ràng. Tuy nhiên, hình tướng không đi đôi với tâm tính, có người diện mạo đẹp đẽ, hình dung thanh nhã nhưng tính tình lại hết sức giảo quyệt đê hèncũng có người “trời sinh ra bắt xấu” nhưng thật sự tính tình hiền lương và hiểu biết được đạo lý làm người một cách chân chính. Trong các loại tuồng tích của Trung
Hoa, Quan Công với sắc diện đỏ hồng, tướng mạo oai
nghi thường tượng trưng cho võ tướng trung thành và có tài năng kiệt xuất, còn một gian thần bán nước là Nghiêm Tung đời Tống luôn luôn được hình tượng bằng diện mạo mặt trắng phương phi, tuấn nhã. Rõ ràng hình tướng không nhất thiết phải đi đôi với tinh thần nhưng vẫn được người ta coi trọng hơn phần tinh thần.

Có thể thấy, đối với thanh thiếu niên, bất cứ phim ảnh nào có tài tử, kể cả nam hay nữ, có diện mạo xinh đẹp thì đều “ăn khách” chẳng cần biết tài tử ấy diễn xuất ra sao. “Chấp tướng” đã ăn sâu vào tâm khảm con người đến mức càng ngày càng có nhiều cuộc thi hoa hậu, lấy hình
tướng của một phụ nữ nào đó, mà người ta cho rằng xinh
đẹp - ra làm mực thước cho người khác bắt chước. Do vậy dần dần người ta nghiêng hẳn về hình tướng, chăm chút nó đến độ chẳng còn quan tâm gì đến tinh thần hay đạo đức.

Thẩm mỹ viện được mở ra như nấm, dành cho phụ nữ và cả giới nam giới nữa, hễ có chút ít tiền là lao vào sửa soạn sắc đẹp chứ không quan tâm đến việc rèn luyện cho mình các đức tính, đạo lý làm người. Báo chí gần đây đăng khá nhiều “tai nạn” của chị em phụ nữ do việc quá chăm chút sắc đẹp nhưng không hề làm người ta ngán ngại chút nào, vẫn dành dụm tiền bạc để đổ xô vào mỹ viện mà không sụy nghĩ rằng nhan sắc ấy hết sức giả tạo, nhìn thoáng qua thấy có vẻ bắt mắt thật nhưng nhìn kỹ thì ôi thôi, chì như một thứ “búp bê” làm cảnh không hồn!

Ngay cả cái “sắc” giả tạo ấy nếu được tâm hồn bù đắp phần nào vẫn toát ra một vẻ trơ tráo, khó nhìn, đó là chưa kể chính mình đã mang tai họa vào thân vì những tác dụng phụ của việc giải phẫu thẩm mỹ. Thế nhưng hầu hết phụ nữ quá thiên về “sắc tướng” không bao giờ nhận
thức được vẻ đẹp chân chính của con người phải là sự tự
nhiên đồng thời kết hợp với tính cách nhu mì khả ái.

Nhà Phật đã đưa ra một sô" phương pháp bằng cách quán tưởng thân thể con người thật sự chỉ là “cái túi da” chứa đựng toàn là vật ô uế trong đó, để hành giả nhận thức được hình tướng, mà đặc biệt là “Sắc tướng” chỉ là giả trá đánh lừa con mắt, đưa con người tới sự tham
luyến về hình tướng trở nên tội lỗi mà thôi. Tiếc thay
dù đã có nhiều lời khuyên răn của các bậc hiền sĩ rồi sau đó là các tông giáo đã vạch rõ “sắc tướng” của con người hoàn toàn là vô giá trị nhưng từ thuở khai thiên lập địa
tới nay, có được một “sắc tướng” xinh đẹp vẫn là điều mà
người ta mong muôn nhiều nhất. Thậm chí chẳng cần tới
tài năng, hễ sở hữu được “sắc tướng” xinh đẹp hơn người khác là người ta đã mãn nguyên, lấy đó làm “cái vốn” để mưu sinh. Trong cuốn Liêu Trai chí dị của văn nhân Bồ Tùng Linh cũng khéo léo vạch rõ ma quỷ biết rất rõ con người mê muội tham lam nhất là “sắc tướng” nên thường đội “lốt da người” để biến thành mỹ nhân gieo rắc tai họa. Thế nhưng từ thư sinh có học hành cho đến bậc phú thương chưa một ai thoát khỏi cạm bẫy đó. Có thể nói từ bao ngàn đời nay, người bình dân cho đến công khanh đế vương cũng chưa bao giờ thoát được lòng tham “sắc tướng”. Nhiều người vì “sắc tướng” lao vào như con thiêu thân, sẵn sàng đánh đổi tất cả sự nghiệp để dành lấy một tấm nhan sắc nào đó. Điển hình là danh tướng Ngô
Tam Quế chỉ vì mê đắm sắc đẹp của nàng ca kỹ Trần
Viên Viên mà đâm ra hận tức, bỏ trống Sơn Hải quan để
đem quân về đấu đá với quân khởi nghĩa của sấm vương

Lý Tự Thành, tạo ra cơ hội ngàn vàng cho quân Mãn Thanh vượt vào đất Trung Nguyên. Thế nhưng đạt được giấc mộng chiếm mỹ nhân rồi thì cũng là lúc nhan sắc
của Viên Viên bắt đầu có dấu hiệu tàn phai, Ngô Tam
Quế không còn thương tiếc gì nữa, xây một đạo quán ở vùng đất thuộc gia tộc họ Mộc để nàng tu hành, sau đó chết trong lặng lẽ. Đến mức đó Ngô Tam Quế vẫn chưa
nhìn ra mọi chuyện trên cuộc đời này là hư ảo nên bắt
đầu nuôi giấc mộng khác là làm Hoàng đế nhưng cuối
cùng thất bại, ra đi với hai bàn tay trắng. Rõ ràng “sắc tướng” hay “hư danh” đều là ảo mộng cuộc đời nhưng người ta luôn luôn đem hết tâm lực chạy theo nó, không
những tạo ra tội ác mà còn làm cho cuộc sống thế gian
càng thêm điên đảo, điêu linh.

Còn một anh hùng kiệt xuất khác là Lý Long Cơ khi đã kiến lập được triều Đường huy hoàng cũng vẫn còn tham mê sắc tướng đến độ cướp cả con dâu của mình là Dương Ngọc Hoàn, vợ của Thọ vương Lý Mạo mang về làm Quý phi. Ông ta say mê nhan sắc của Dương Quý phi đến nỗi sau khi phải bức tử nàng Mã Lăng rồi vẫn còn tưởng nhớ đến nhan sắc ấy cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Nếu như Huyền tông Lý Long Cơ quán tưởng lúc đó giai nhân họ Dương chỉ còn là cái xác hôi hám, đầy giòi bọ thì ông còn mơ tưởng được nữa không? Tiếc rằng con người quá coi trọng sắc tướng - nhất là giới phụ nữ - hầu như bất cứ việc gì cũng chú ý đến sắc tướng trước hết. Phải chăng do vậy mà hầu hết các tông giáo hiện tại đều “không dám” để cho phụ nữ phụ trách việc “chăn dắt linh hồn” con người.

Về mặt tông giáo, tính cách “chấp tướng” cũng biểu lộ râ't rõ bằng việc nhiều nhà treo đầy hình ảnh Phật hay Chúa, trang hoàng lộng lẫy, coi như vậy mới đúng là thành kính, mộ đạo. Nhà nào có bàn thờ đơn giản lập tức tức bị phê bình. Thậm chí nếu ngày ngày mở đĩa
nghe kinh, nghe giảng thì mới thật là Phật tử?! Tiếc
rằng không ít nhà vừa trưng bày tượng Phật, Bồ Tát vừa có cả bàn thờ Thần Tài, Táo quân, Thổ địa, v.v... pha trộn cả Đạo giáo khiến Phật giáo ngày càng trở thành
tông giáo mê tín dị đoan. Phật giáo đã bị mang tiếng vì
những hành vi “chấp tướng” của chính người gọi là mộ
đạo. “Chấp tướng” đến độ mù quáng sẽ đưa đến sai lầm khó sửa chữa bởi tính cách vô minh che lấp, cho rằng như vậy mới đúng, mới là biết thờ phụng thần thánh, sẽ được nhiều ân phước, v.v...

Có thể thấy tính cách “chấp tướng” hiện diện trong mọi hoàn cảnh, từ thời thượng cổ đến nay vẫn không thay đổi, thậm chí vì quá “chấp tướng” mà nhiều khi người ta đi đến đau đớn, lo lắng, điển hình là chuyện tráng sĩ Tân Ti Tụ chỉ nằm mơ bị người hạ nhục mà ngày đêm ra sức truy tìm báo thù. Dĩ nhiên là không thể tìm được người “trong mộng” nên ông ta uất ức mà chết. Đó là trường hợp hy hữu, mang tính cách ngụ ngôn về ảo tưởng của con người chứ không có thật. Tuy nhiên trong đời thường, mức độ “chấp tướng” cũng dễ dẫn đến ảo tưởng sai lầm và tác hại đến nhiều mặt của cuộc sống, Còn như hình tướng bên ngoài, đẹp hay xấu thì cổ nhân cũng đã khẳng định hoàn toàn không đi đôi với nhau. Trong Cổ học tỉnh hoa ghi lại chuyện của Dương Chu: “Một hiền sĩ tên là Dương Chu có việc phải sang nước Tống, vào trọ trong một khách điếm. Chủ nhân
khách điếm có hai người thiếp, một người dung mạo rất
xinh đẹp còn người kia tầm thường, xấu xí. Dương Chu đó mấy ngày, chú ý nhận ra người trong nhà đều có lòng quý trọng người thiếp xấu xí, nói năng kính cẩn mà
lại khinh rẻ người thiếp xinh đẹp, ít khi tỏ thái độ ân
cần. Dương Chu rất ngạc nhiên, hỏi thẳng người trong
nhà thì được trả lời: "Người thiếp đẹp vì kiêu ngạo cái đẹp của mình mà mất cái đẹp di, chẳng còn thấy cái đẹp đâu nữa; còn người thiếp xấu xí tự biết mình không
bằng người mà quên cái xấu đi, vì thế chẳng thấy cái
xấu đâu nữa
".

Riêng đối với Phật giáo cũng không ít lời phê bình về việc một s" chùa quá tôn kém trong việc trang hoàng Phật điện. Người ta cũng hiểu rằng, để phổ biến cho chúng sinh thì phải cần tùy theo hoàn cảnh mà truyền bá cứu độ, vì vậy nhà chùa tất phải có sự trang nghiêm, hình tướng uy nghi sẽ phần nào giúp cho tâm chúng sinh nảy sinh ngưỡng vọng và kính sợ, từ đó tiến dần tới đạo pháp. Thế nhưng có nhiều chùa chiền đã “quên” mất ý nghĩa của đạo, không lo lắng đến việc từ thiện, không cứu giúp người nghèo khó, không chuyên cần hoằng hóa
Phật pháp mà ra sức xây dựng chùa chiền thật lớn, thật
huy hoàng để mong Phật tử đến hành hương. Càng có nhiều Phật tử đến chùa thì càng thu được nhiều lợi ích vật chất. Nếu phê bình thì những chùa ấy sẵn sàng ngụy
biện là khi người ta đã đến chùa thì ít nhiều cũng sẽ cảm
nhận được đạô pháp. Thật sự không ít người mang tiếng
là Phật tử nhưng khi đến chùa không hề cảm nhận đến đạo pháp mà trong tâm đầy toan tính “đánh đổi”. Xây dựng chùa chiền quá tốn kém chính là tính cách “dẫn dụ” chứ không phải “hoằng dương”.

Thật ra, theo ý kiến của các vị cao tăng thì chính Đức Phật cũng nhận biết hình tướng bên ngoài đôi với chúng sinh vô cùng quan trọng nên không hề chê trách việc xây dựng chùa chiền to lớn, chỉ dùng màu vàng đơn giản làm áo cà sa cho các tăng để biểu hiện sự cao quý trong tâm hồn mà thôi. Việc xây dựng chùa chiền, bảo tháp đều là phương tiện để nhiếp độ chúng sinh mà thôi. tăng không nên quá chú trọng hay chấp nhất là chùa ta phải lớn hơn, huy hoàng hơn chùa khác và Phật tử cũng không nên chấp nhất như thế sẽ tôn kém bao nhiêu.

Trên mức độ cao hơn, “Có” tức là “Không”, “Giả” cũng là “Thật”, các bậc cao tăng cũng có thể dùng hình tướng bên ngoài để giúp cho tâm của Phật tử chuyển thành cảnh giới có hình tướng thật bởi mục đích của người tu hành là chuyển từ cảnh giới này đến cảnh giới khác, chứ
không phải bỏ hẳn hình tướng. Vì vậy nhiều chùa vừa
cố gắng giúp đỡ cho người nghèo nhưng đồng thời cũng không lơ là trong việc trang hoàng cho Phật điện, tạo niềm tin trước tiên nhờ vào hình tướng uy nghi của Đức Phật và các Bồ Tát.

Người bước vào chùa, ấn tượng ban đầu chắc chắn có cảm giác thanh tịnh bởi sự yên tĩnh và uy nghiêm của nó, vườn tược xum xuê mát mẻ cũng giúp cho họ có ấn tượng một cảnh giới nào đó an lạc giông như “Niết Bàn” và lập tức nảy sinh lòng kính mộ. Chúng ta không đề cập
đến một
số nhỏ chùa chiền cô" tình trang hoàng cho lộng lẫy để thu hút khách thập phương thì xét kỹ cũng không nên “chấp tướng” quá nặng về sự trang hoàng, xây dựng ấy, bởi quá giản dị cũng không phải là phương sách hay để tạo môi trường truyền bá Phật giáo.

Nếu như thật sự muốn tu hành thì chỉ cần một cái am nhỏ nơi non cao cùng cốc, một bộ nâu sòng là xong. Thế nhưng, tâm lý “chấp tướng” của con người vô cùng mạnh mẽ, điển hình là các tài tử, ca sĩ, v.v..., dù hát yếu diễn dở đến đâu cũng cố gắng chi phí cho hình tướng bề ngoài
thật lộng lẫy, phần nào che lấp được cái kém cỏi của họ.
Chính sự chấp nhất quá đáng về mặt đạo giáo mới là nguyên nhân nảy sinh rắc rối và phiền não cho chính mình và cho cả người khác.