Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

NGŨ CHI BÁT PHÁI LÀNG MỘ TRẠCH

 Soạn Thảo Phả Đồ của 5 Chi Tám Phái Làng Mộ Trạch dùng để so sánh với Họ Vũ Thôn Tống xuyên Huyện Hưng Hà Tỉnh Thái Bình.Nội Dung của Phả đồ chỉ giới hạn đến năm kỷ mão 1819 Đời Vua Gia Long  trở về trước để dễ dàng so sánh với Thuỷ Tổ.

 5 ông Tổ đầu tiên của Ngũ Chi là:

1-Vũ Tuỳ (không rõ năm sinh) Huyện Thừa: Khởi tổ chi Một (cha ông Tiến Sĩ Đôn).

2-Vũ Tấn (không rõ năm sinh) Thầy Thuốc: Khởi tổ chi Hai (ông nội Hương Cống Hưu).

3-Vũ Hữu (trạng  toán) Hiển Đức Đường (1441 – 1511): đỗ Hoàng Giáp Tiến Sĩ năm 1463 (Quí Mùi) là khởi tổ chi Ba (cha ông cống Vũ Vĩnh Phu).

4-Vũ Tráng (chưa rõ năm sinh) đỗ hướng cống, Lang Trung, Thầy giáo và là khởi tổ chi Bốn.

5-Vũ Phong (Trạng Vật) đình uý chỉ huy Sứ. là khởi tổ chi Năm (Lệ Trạch Đường) chi 5 có nhiều ông thành đạt và học giỏi.


1.     Phái thứ nhất: gọi là phái Giáp hay phái Tý, có cụ Vũ Quỳnh, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất (1478), triều vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) truyền đến đời thứ 8, Vũ Nhân Bật không có con trai, coi như hết. Cụ Vũ Quỳnh có tên ở bia tại Văn Miếu, Hà Nội.
 
Phả Đồ 1

2.     Phái thứ hai: gọi là phái Ất, hay phái Sửu, có cụ Vũ Cán, đỗ hoàng giáp khoa Nhân Thân (1502), cụ Vũ trác Lạc đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), Văn Miếu Hà Nội còn bia ghi tên hai cụ. Đến đời thứ 11, cụ Vũ Trác Oánh, đỗ cử nhân, cùng Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên chống Trịnh Giang, từ năm 1735 đến 1741, .

Phả Đồ 2

3.     Phái thứ ba: gọi là phái Bính hay phái Dần, có cụ Vũ Tĩnh, đỗ Tiến sĩ, khoa Nhâm Tuất (1562). Triều vua Mạc Phúc Nguyên (1546 – 1562), con cháu không còn ai ở làng.

Phả Đồ 3

4.     Phái thứ tư gọi là phái Đinh hay phái Mão, có cụ Vũ Công Đạo đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1659), cụ Vũ Công Lượng, đỗ dòng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên 2 cụ, nhà thờ “Thế trạch đường” còn gọi là “Tràng Xuân Đường, có bia ghi dự tíh và thơ văn. Con cháu còn truyền nay là đời thứ 15, 16, 17.

Phả Đồ 4

5.     Phái thứ năm: gọi là phái Mậu hay phái Thìn, có cụ Vũ Đăng Long, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên cụ. Nhà thờ “Diên Khánh Đường” và “Di trạch đường”. Con cháu còn truyên đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17.

Hình 5

6.     Phái thứ sáu: còn gọi là phái Kỷ, phái Thìn có cụ Vũ Công Bình đỗ đồng tiến khoa Giáp Thìn (1664), cụ Vũ Huy Đĩnh, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754). Văn miếu Hà Nội còn bia ghi tên 2 cụ. Cụ Vũ Huy Đỉnh lại có tên trên bảng danh sách “tể tửu tử nghiệp” Quốc tử giám cùng với cụ Vũ Quỳnh là người phái Giáp. Nhà thờ “Tích thiện đường”, con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17 …

Phả Đồ 6

7.     Phái thứ bảy: còn gọi là phái Canh, phái Tỵ, có cụ Vũ Lân Chỉ, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17 …

Phả Đồ 7

8.     Phái thứ tám: còn gọi là phái Tân, phái Ngọ, có hữu mịch Vũ Nhật Quyện. Nhà thờ “Phúc Khánh Đường” con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16, 17 …

Phả Đồ 8

Không có nhận xét nào: