Soạn Thảo Phả Đồ của 5 Chi Tám Phái Làng Mộ Trạch dùng để so sánh với Họ Vũ Thôn Tống xuyên Huyện Hưng Hà Tỉnh Thái Bình.Nội Dung của Phả đồ chỉ giới hạn đến năm kỷ mão 1819 Đời Vua Gia Long trở về trước để dễ dàng so sánh với Thuỷ Tổ.
Phả Đồ 2
Phả Đồ 3
Phả Đồ 4
Hình 5
Phả Đồ 6
Phả Đồ 7
Phả Đồ 8
5 ông Tổ đầu tiên của
Ngũ Chi là:
1-Vũ Tuỳ (không rõ năm sinh) Huyện Thừa: Khởi
tổ chi Một (cha ông Tiến Sĩ Đôn).
2-Vũ Tấn (không rõ năm sinh) Thầy Thuốc: Khởi
tổ chi Hai (ông nội Hương Cống Hưu).
3-Vũ Hữu (trạng toán) Hiển Đức Đường
(1441 – 1511): đỗ Hoàng Giáp Tiến Sĩ năm 1463 (Quí Mùi) là khởi tổ chi Ba (cha
ông cống Vũ Vĩnh Phu).
4-Vũ Tráng (chưa rõ năm sinh) đỗ hướng cống,
Lang Trung, Thầy giáo và là khởi tổ chi Bốn.
5-Vũ Phong (Trạng Vật) đình uý chỉ huy Sứ. là
khởi tổ chi Năm (Lệ Trạch Đường) chi 5 có nhiều ông thành đạt và học giỏi.
1. Phái
thứ nhất: gọi là phái Giáp hay phái Tý, có cụ Vũ Quỳnh, đỗ Hoàng giáp khoa
Mậu Tuất (1478), triều vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) truyền đến đời thứ 8, Vũ
Nhân Bật không có con trai, coi như hết. Cụ Vũ Quỳnh có tên ở bia tại Văn Miếu,
Hà Nội.
Phả Đồ 1
2. Phái
thứ hai: gọi là phái Ất, hay phái Sửu, có cụ Vũ Cán, đỗ hoàng giáp khoa
Nhân Thân (1502), cụ Vũ trác Lạc đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), Văn
Miếu Hà Nội còn bia ghi tên hai cụ. Đến đời thứ 11, cụ Vũ Trác Oánh, đỗ cử
nhân, cùng Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên chống Trịnh Giang, từ năm 1735 đến
1741, .
Phả Đồ 2
3. Phái
thứ ba: gọi là phái Bính hay phái Dần, có cụ Vũ Tĩnh, đỗ Tiến sĩ, khoa Nhâm
Tuất (1562). Triều vua Mạc Phúc Nguyên (1546 – 1562), con cháu không còn ai ở
làng.
Phả Đồ 3
4. Phái
thứ tư gọi là phái Đinh hay phái Mão, có cụ Vũ Công Đạo đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ
Hợi (1659), cụ Vũ Công Lượng, đỗ dòng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu
Hà Nội có bia ghi tên 2 cụ, nhà thờ “Thế trạch đường” còn gọi là “Tràng Xuân
Đường, có bia ghi dự tíh và thơ văn. Con cháu còn truyền nay là đời thứ 15, 16,
17.
Phả Đồ 4
5. Phái
thứ năm: gọi là phái Mậu hay phái Thìn, có cụ Vũ Đăng Long, đỗ đồng Tiến sĩ
khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên cụ. Nhà thờ “Diên Khánh
Đường” và “Di trạch đường”. Con cháu còn truyên đến ngày nay là đời thứ 15, 16,
17.
Hình 5
6. Phái thứ
sáu: còn gọi là phái Kỷ, phái Thìn có cụ Vũ Công Bình đỗ đồng
tiến khoa Giáp Thìn (1664), cụ Vũ Huy Đĩnh, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất
(1754). Văn miếu Hà Nội còn bia ghi tên 2 cụ. Cụ Vũ Huy Đỉnh lại có tên trên
bảng danh sách “tể tửu tử nghiệp” Quốc tử giám cùng với cụ Vũ Quỳnh là người
phái Giáp. Nhà thờ “Tích thiện đường”, con cháu còn truyền đến ngày nay là đời
thứ 15, 16, 17 …
Phả Đồ 6
7. Phái thứ
bảy: còn gọi là phái Canh, phái Tỵ, có cụ Vũ Lân Chỉ, đỗ đồng
Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15,
16, 17 …
Phả Đồ 7
8. Phái thứ
tám: còn gọi là phái Tân, phái Ngọ, có hữu mịch Vũ Nhật Quyện.
Nhà thờ “Phúc Khánh Đường” con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16,
17 …
Phả Đồ 8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét