Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

Thôn Tống Xuyên Tên Gọi Qua Cac Thời Kỳ

Lich Sử Thôn Tống Qua các Thời Kỳ
Cảnh quan tự nhiên do tác động của con người trở thành cảnh quan văn hoá và mối quan hệ giữa hai cảnh quan này vận động, biến đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử. Ví dụ sự đổi dòng của sông Hồng, sông Thái Bình ... có làng xưa ở ven sông nay thành làng nội đồng với tất cả sự thay đổi về tụ điểm dân cư, xây dựng nhà cửa, nề nếp canh tác, nghề nghiệp
Ðồng đất Thái Bình được hình thành dọc theo các triền sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý là những bờ bãi thuận tiện cho con người cư trú và trồng trọt. Với ưu thế của vùng đất ven biển phù sa màu mỡ nên đã cuốn hút cư dân khắp nơi về khai phá, lập làng. Có hai luồng cư dân chủ yếu vào tụ cư và hợp cư ở Thái Bình. Ðó là luồng cư dân từ miền bắc xuống và luồng dân cư từ nhiều nơi đi theo đường biển vào. Ðịa bàn tụ cư của những lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này là nơi gò cao, những sống đất cao của ven biển, phần lớn thuộc đất đai của huyện Hưng Hà
Thôn Tống xuyên qua các thời kỳ Lịch Sử:
Nhà Đông Hán (năm 25 – năm 226), Vùng đất này nằm trong vùng đất phía nam cuối cùng của huyện Chu Diên, quận Giao chỉ, nơi cuốn hút mạnh mẽ các luồng cư dân tràn về khai phá, lập làng. Với ưu thế của vùng đất ven biển, sông ngòi thuận tiện nên đã sớm trở thành nơi ẩn giấu, gây dựng lực lượng của nhiều thủ lĩnh nổi dậy chống quân Hán. Nhiều thần phả, câu đối ở đình, miếu thuộc các huyện , Hưng Hà, còn ghi rõ tên tuổi của những bà mẹ, những chàng trai, cô gái Thái Bình đã đứng lên dưới ngọn cờ đại nghĩa của bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục và tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. “Thôn Tiên La, xã Đoan Hùng huyện Hưng Hà
Thế kỷ 6 (thời nhà Tuỳ - Lương bên Trung Quốc): Phần lớn đất đai Vùng này thuộc quận Vũ Bình, phần còn lại thuộc đất quận Ninh Hải. Ðịa thế nơi đây không hiểm trở như vùng núi cao, rừng rậm nhưng lại xa thủ phủ của bọn xâm lược nên tạo điều kiện để các cuộc khởi nghĩa bùng nổ mà điển hình là cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo., nơi nhen nhóm lực lượng đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa - nơi nhân dân đã góp xương máu xây dựng và bảo vệ nhà nước Vạn Xuân non trẻ.
Thế kỷ 7 thuộc Đất Châu Diên.
Thời Kỳ Tự chủ Ngô, Đinh, Tiền Lê là đất Đằng Châu , 藤州
Thời tiền Lê, nhà Lê đổi đạo làm lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ là hương. đổi là phủ Thái Bình 太羊府
Năm 1005,Lê Long Đĩnh  đem quân đi đánh về qua, cho đổi châu làm phủ Thái Bình).
 Thời nhà Lý (thế kỷ 11)Đời Lý Cao Tông lại tách riêng Đằng Châu , 藤州 và Khoái Châu .
Thời Nhà trần (1225-1400)" Ðầu thời Trần, Vùng đất này  thuộc đất của hai lộ Long Hưng và Thiên Trường. Về sau thuộc đất các lộ Long Hưng (nguyên lộ cũ) và Kiến Xương, An Tiêm (lộ mới do Thiên Trường tách ra), dưới lộ là huyện, hương  xã.
Đời Trần là đất lộ Long Hưng  龍興路 và lộ Khoái Thời
  1. Lộ Long Hưng gồm 4 huyện :
                  -          Huyện Ngự thiên (……………)(*)
                  -          Huyện Thần Khê (sau là huyện Tiên Hưng)
                  -          Huyện Duyên Hà
                  -          Huyện Cổ Lan (sau là huyện Thanh Quan)
Nhà Hồ đổi Lộ Long Hưng Thành Phủ Tân Hưng 新興府
Thời Kỳ thuộc Minh (Thế Kỷ 14)là đất hai phủ Kiến Xương 建昌府 và Phủ Trấn Man.
  1. Phủ Trấn Man 鎮蠻府  Đổi từ Phủ Tân Hưng của nhà Hồ với các huyện sau :
                 -          Huyện Tân Hoá (nguyên là huyện Ngự Thiên đổi ra).(*)
                 -          Huyện Duyên Hà.
                 -           Huyện Cổ Lan.
                 -          Huyện Thần Khê.
Thời Lê (thế kỷ 15-18) đất đai và làng xã Vùng này h được phân chia rõ ràng và cụ thể hơn trước. Theo ghi chép của Nguyễn Thiên Tích thì số làng xã của 3 phủ
Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nước chia làm 12 đạo thừa tuyên, Vùng Đất này thuộc thừa tuyên Thiên Trường. gồm 2 Phủ 9 Huyện Phủ Khoái Châu 快州 5 huyên: Kim Động, Đông Yên, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung
Phủ Tân Hưng 新興府  Đổi từ phủ Trấn Man nhà Minh Gồm 4 huyên:  
                  -          Huyện Ngự Thiên “Nguyên là huyện Tân Hoá thời kỳ thuộc Minh”
                  -          Huyên Diên Hà,
                  -          Thần Khê
                  -          Thanh Lan
Năm Hồng Đức thứ 21 Tháng 4 năm 1490 cả nước chia thành 12 xứ, Vùng Đất này thuộc xứ Sơn Nam.
Nhà Mạc đổi thuộc trấn Hải Dương.
Đời Lê Trung hưng đổi lại như cũ (1578), sau chia Sơn Nam làm 2 lộ: phủ Khoái Châu thuộc Sơn Nam Thượng, phủ Tiên Hưng (cũ là Tân Hưng) thuộc Sơn Nam Hạ (Cảnh Hưng 2, 1741).
 Phủ Tiên Hưng : gồm 4 huyện, 170 làng xã.
                  -          Huyện Ngự Thiên : Gồm 51 làng xã. (Nguyên Là Huyện Tân Hoá) (*)
                  -          Huyện Thanh Quan : 43 làng xã
                  -          Huyện Thần Khê : 43 xã.
                  -          Huyện Duyên Hà : 42 xã.
Ở thế kỷ XVII, Vùng đất này đã thực sự trở thành một đô thị sầm uất “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, các hoạt động của nền kinh tế hàng hóa đã tạo cho Phố Hiến một cảnh nhộn nhịp đông vui của cư dân địa phương cùng thương nhân nước ngoài. Thời đó Kinh thành Thăng Long có 36 phường, thì Phố Hiến có 20 phường, trong đó có tới 8 phường thủ công, đó là nét đặc sắc của Phố Hiến, làm cho Phố Hiến khác với đô thị đương thời. Sự xuất hiện của các phường thủ công đã thể hiện tính hoàn chỉnh của một đô thị trung đại. Phố Hiến thực sự là một “tiểu Tràng An”.
Thời Tây Sơn, Vùng đất được gọi là Trấn Sơn Nam hạ, về địa danh có thay đổi chút ít nhưng về đơn vị hành chính đại thể vẫn như thời Lê (Ví dụ đổi phủ Thái Bình làm phủ Thái Ninh).
Đầu đời Gia Long vẫn theo cũ, đổi gọi là trấn.
Năm Minh Mênh 3 (1822), Sơn Nam Thượng đổi gọi là trấn Sơn Nam, Sơn Nam Hạ đổi gọi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mênh 12 (1831) chia đặt các tỉnh trong toàn quốc thành lập tỉnh Hưng Yên 興安 gồm 2 phủ, 8 huyên.
  1.  Phủ Khoái Châu gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ của trấn Sơn Nam)
  2.  Phủ Tiên Hưng  gồm các huyện Tiên Lữ, Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định)
Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở cả hai phía sông Luộc.
Ngày 21/3/1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình. Huyện Thần Khê , Hưng Nhân, Duyên Hà của Hưng Yên, cùng hai phủ Thái Bình, Kiến Xương của Nam Định về với tỉnh Thái Bình. Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tên tỉnh Thái Bình xuất hiện. Đó là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử Thái Bình, chứng tỏ vùng đất này đã phát triển đến mức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương.
Ngày 28/11/1894, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Tiên Lữ từ phủ Tiên Hưng sang phủ Khoái Châu; hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà sáp nhập vào tỉnh Thái Bình. Kể từ đây sông Luộc trở thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình
Phủ Tiên Hưng :   先興府
 
Đời Lý về trước là Hương Đa Cương 
Nhà Trần là Lộ Long Hưng  龍興府 (vì nhà Trần có mộ tổ ở xã Thái Đường huyện Ngự Thiên).
Nhà Hổ đổi là phủ Tân Hưng 新興府
Thời thuộc Minh là phủ Trấn Man 鎭蠻府     
Nhà Lê lấy lại tên cũ là phủ Tân Hưng 新興府
Đời Lê Trung Hưng, kiêng chữ Tân (tên của  Lê Duy Tân, 1600-1619), đổi là phủ Tiên Hưng 先興府
Từ đời Lê đến đầu Nguyễn, phủ Tiên Hưng gổm 4 huyện: 

                  -          Ngự Thiên  đời Gia Long, năm 1808 đổi là Hưng Nhân.
                  -          Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (1802 đổi Thanh Quan).
                  -          Thần Khê
                  -          Tiên Lữ Năm Tự Đức thứ 4 (1861) tách huyên Thanh Quan sang phủ Thái Bình (tỉnh Nam Định), nhưng lại hợp với huyên Tiên Lữ từ phủ Khoái Châu tách sang (Tiên Lữ thay Thanh Quan); từ đó đến đời Đồng Khánh vẫn gồm 4 huyên không đổi.

Huyện Diên Hà 12 tổng, gồm 114 xã, thôn, trang:
Huyên Diên Hà  (cũng đọc là Duyên Hà): Tên huyên đặt từ đời Trần từ đời Lý). Thời thuộc Minh cũng gọi là huyên Diên Hà. Nhà Lê đặt thuộc phủ Tân Hưng (sau là Tiên Hưng). Qua các triều, đến đời Đồng Khánh không đổi. Từ 1891 tách sang tỉnh Thái Bình.
Huyện Hưng Nhân, 6 tổng  , gồm 56 xã, thôn, trang: Theo dư địa chí đồng khánh

Huyên Hưng Nhân: Đời Trần tên là huyên Ngự Thiên 御天縣   thuộc Lộ Long Hưng. Thời thuộc Minh đổi là
Huyên Tân Hoá   新化 Phủ Trấn Man. Đời Lê lấy lại tên cũ là Ngự Thiên. Năm Gia Long 7 (1808) đổi là huyên Hưng Nhân  興仁縣 Sau đời Đồng Khánh tách sang tỉnh Thái Bình mới

1.Tổng Tống Súc, 8 xã, 1 trang:

1.Xã Tống Súc                     2.Xã Phúc Tiên            3.Xã Phúc Hải             4.Xã Khánh Mỹ
5.Xã Nhân Xá                     6.Xã Ngữ Khê              7.Xã Ngữ Thuỷ            8.Xã Khuông Phù

Trang Khả La
Xã Khuông Phù: Trước tên là xã Phù Ngự  扶御 ; sau năm Tự Đức 6 (1853) kiêng các từ tôn kính, đổi là Khuông Phù 匡扶

2.Tổng Hiệu Vũ, 8 xã, trang:

1.Xã Hiệu Vũ                      2.Xã Đào xá            3.Xã Nham Lang         4.Xã Bái trạch: Thôn Hoà,
5.Xã Bái Trạch: Thôn quyên                               6.Xã cầu công             7.Xã Yên Cầu      8.Xã Lưu Xá

Tổng  Hiệu Vũ: Trước tên là tổng và xã Hổng Vũ  洪武  từ 1848 kiêng chữ Hổng (Hổng Nhậm, tiểu tự của Tự Đức), đổi là Hiệu Vũ 頦武
 3.Tổng Hà lão, 9 xã,

1.Xã Hà lão                         2.Xã Nhật tảo               3.Xã Ứng Lôi              4.Xã Phú Hoà,
5.Xã Lão Khê                      6.Xã Phú Vật                7.Xã An Nghiệp          8.Xã Mai Lĩnh
9.Xã Thuý Lam
Xã Nhật Tảo: Trước tên là xã Nhật Cảo. Từ năm 1836 kiêng đổng âm chữ Cảo (biệt danh của Gia Long), đổi là Nhật Tảo  日早 .
Xã An Nghiệp: Trứơc tên là xã An Triền  安廛 ; từ 1843 kiêng chữ Triền (cận âm với tên huý vua Thiệu Trị), đổi là An Nghiệp 安業 .
 4.Tổng Thanh Triều, 10 xã,
1.Xã Thanh Triều                              2.Xã Hải Triều                         3.Xã Bùi Xá                            4.Xã Hà xá,
5.Xã Mỹ Xá                                      6.Xã Thuỵ Vân                        7.Xã Kiều Thạch                     8.Xã Xuân Trúc
9.Xã Tây Xuyên                           10. Thôn Quan Khuê.
5.Tổng Quan Bế, 7 xã,

1.Xã Quan Bế                                    2.Xã Lương Khê                      3.Xã An Xá                            4.Xã Tảo Sơn
5.Xã Lương xá                                  6.Xã Quan Hà                          7.Xã Phú Khê

5.Tổng Đặng Xá, 10 xã, 2 trang

1.Xã Đặng Xá                                   2.Xã Dương Khê                     3.Xã Thái Đường                    4.Xã Triêm Ân
5.Xã Dương Xá                                 6.Xã Tây Nha                          7.Xã Thanh Nga                      8. Xã Do Đạo

9.Xã Hưng Nhân                               10.Xã Trác Dương                   11.Trang Đồng nỗ              12. Trang Đồng vọng .
Xã Triêm Ân: Trước tên là xã Kính Ân. Từ 1862 kiêng chữ Kính, đổi là Triêm Ân 霞恩
 Huyện này thời cổ thuộc đất quận Giao Chỉ. Từ đời Lý-Trần về sau đều gọi như tên hiện nay. Sĩ, nông, công, thương ai lo nghiệp nấy, phong tục cần kiệm chất phác.
Riêng huyện Diên Hà có truyền thống văn học khá hơn, nhưng rải rác cũng có nơi thói tục điêu gian.
Dân Hưng Nhân phần nhiều điêugian hung hãn. Các việc cưới xin ma chay cũng theo như lệ thường. Nghi lẽ thờ thần cúng Phật cũng đều theo tục lệ, không xa hoa phí phạm lắm.
Sản vật: ít lúa hè, nhiều lúa thu. Hàng năm, sau vụ gặt, thường trổng xen khoai, đậu, cà, mía, đay, bông, địa tiên, chuối, cau, cam, mít. Trong vườn nhà dân thường trổng cây chè bạng, nhưng không được ngon
lắm. Nghề dệt chiếu cói thì ở 3 xã Xuân Trúc, Kiều Thạch, Quan Khê tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân.

 Ngày 10-4-1946, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bỏ đơn vị tổng, đổi phủ thành huyện. Toàn tỉnh có 12 huyện, 1 thị xã và 829 xã, thôn.
Năm 1969, sáp nhập 12 huyện thành 7 huyện và 1 Thị xã. Ðó là các huyện :
                  -          Hưng Hà (Hưng Nhân và Duyên Hà hợp thành),
                  -          Ðông Hưng (Ðông Quan và Tiên Hưng hợp thành),
                  -          Quỳnh Phụ (Quỳnh Côi và Phụ Dực cũ),
                  -          Vũ Thư (Vũ Tiên và Thư Trì), Kiến Xương
                  -          Tiền Hải.
Năm 1957 Xã Thái Hưng đươc thành lập theo Quyết định. 485/1957/QĐ-TCCP Gồm 8 thôn Tân Dương, Thôn Đồng Vọng, Thông Dương Xuân, Thôn Tống Xuyên, Thôn Chiềng, Thôn Trại, thôn Phú Ốc
Theo những tư liệu đã nêu ở Trên thì địa danh này đã xuất hiện cách đây trên dưới 1000 năm. Năm Nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc còn ghi dấu ấn tại Tống xuyên. Về mặt di tích, nơi đây còn một quần thể trải đều liên hoàn trong tất cả các thôn với đủ loại hạng mục như đình, chùa, đền, phủ, miếu, am, quán, lăng mộ, nhà thờ danh nhân, Trải qua nhiều biến cố lịch sử, từng thành tố đơn lẻ của thôn cổ có bị thay đổi và có niên đại xây dựng không sớm, nhưng về tổng thể, khu vực này vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian thôn của một thôn cổ thuần Việt.
 
Vũ Gia Tường Tham Khảo Nhiều sách trong đó có Đồng Khánh Dư Địa Chí

Việc hình thành họ của dân tộc Việt (P1)

Như bất kì dân tộc nào trên thế giới, nguồn gốc tên họ của người Hán đóng một vai trò rất quan trọng. Đặc biệt, sự ảnh hưởng của nó đến các dân tộc láng giềng là không nhỏ nên việc truy tìm nguồn gốc của nó là vô cùng cần thiết. Vì vậy, trong bài viết ngắn này người viết mong muốn được tìm hiểu về nguồn gốc họ của người Hán. Đồng thời qua đó cũng tìm hiểu  những ảnh hưởng đến tên họ của người Việt chúng ta.
Nguồn gốc họ của người Hán
Việc hình thành họ của dân tộc Hán đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài với từng thời kỳ khác nhau, sự phát triển của nó có quan hệ mật thiết với sự phát triển lịch sử văn hóa của xã hội Trung Quốc.
Người Hán từ xa xưa đã rất coi trọng họ, còn được gọi là tính(), điều này xuất phát từ việc sùng bái đất tổ của con người. Tính() được tạo thành từ chữ nữ() và chữ sinh() điều này nói rõ họ của người Hán có từ thời công xã nguyên thủy theo chế độ mẫu hệ cổ đại hoặc quan hệ huyết thống giữa những người phụ nữ mà thôi. Theo truyền thuyết, mẹ của thần Nông tên là Nữ Đăng, do đó tất cả mọi người trong bộ lạc đều có họ là nữ hoặc lấy chữ nữ để ghép với những chữ khác tạo thành họ. Ví dụ: Viêm đế họ Khương (), Hoàng đế họ Cơ (), mẹ của Thủy tổ nhà Thương mang họ Nhung () ngoài ra còn có các họ khác như: Diêu (), Tự (), Khiết (), Vân (), Quỳ (), Nhẫm () v.v.. Những họ này tất cả đều có bộ nữ () bên cạnh. Điều này cho thấy, trong xã hội mẫu hệ, con cái đều lấy họ mẹ làm họ của mình và mọi người chỉ biết đến mẹ chứ không biết đến cha. Do đó có thể biết được vào thời cổ đại họ và việc sinh con có quan hệ với nhau. Giống như trong quyển “Thuyết văn giải tự”của tác giả Hứa Thận đời nhà Hán có viết “Tính, nhân sở sinh dã”(, 人所生也) tức họ và tên người được sinh ra cùng một lúc. Trong quyển “Bạch hổ thông – tính danh”, Ban Cố có viết: “Tính giả, sinh dã, nhân bẩm thiên khí, sở dĩ sinh giả dã”(姓者, 生也, 人禀天气所以生者) tức là họ, sinh mệnh của con người chịu sự chi phối của thời tiết.
Như vậy, họ và ý trời lại có liên quan đến với nhau, mang màu sắc thần thánh, do đó dẫn đến việc sùng bái họ.
Trong thời cổ đại, họ thường là tộc hiệu của cả một bộ lạc. Khi lực lượng sản xuất của xã hội đã phát triển, người đàn ông dần trở thành lực lượng lao động chính trong xã hội từ đó xuất hiện xã hội phụ hệ, trong đó người đàn ông đóng vai trò chính trong gia đình. Xã hội mẫu hệ dần dần chuyển thành xã hội phụ hệ, lúc này họ lại phụ thuộc vào mối quan hệ cha con chứ không còn dùng họ có bộ “nữ” một bên nữa.
Ở thời cổ đại tínhthị không giống nhau. Trong quyển “Tư trị thông giám ngoại ký” Tư Mã Quang viết: “Tính giả, thống kì tổ khảo chi sở tự xuất; thị giả, biệt kì tử tôn chi sở tự phân.”(姓者, 其祖考之所自出, 氏者别其子孙之所自分) Điều này nói rõ, tính là dấu hiệu của một đại tông tộc, thị là một nhánh của một họ tộc lớn. Ví dụ: Tổ tiên của người Thương họ Tử về sau con cháu lại phân ra thành các thị như: Yên, Thời, Tống, Không, Đồng v.v.. Trong quyển “Thông chí – thị tộc lược” của Trình Tiền đời Tống đã nói rõ việc phân chia họ như sau:
Trước thời Tam Đại, họ được phân làm hai: nam gọi là thị, nữ gọi là tính. Tính là dấu hiệu để chỉ huyết thống của một người và đồng thời nó cũng là dấu hiệu để chỉ cả một tập hợp người có cùng quan hệ huyết thống với nhau, thị dùng để phân biệt quý tiện. Bởi vì người quý thì có thị, còn người tiện thì có tên chứ không có thị. Thị chính là tượng trưng cho địa vị chính trị của những người sống trong thị tộc, đồng thời cũng tượng trưng cho quyền lực và của cải. Và quyền lực này được nắm giữ bởi đàn ông, được truyền lại qua các thế hệ con trai, các thế hệ này đồng thời với việc kế thừa quyền lực do được truyền lại, họ cũng kế thừa luôn tượng trưng quyền lực, đó là Thị. Trong hôn nhân tính cũng khác nhau, những người cùng thị nhưng khác tính thì có thể kết hôn, còn những người cùng tính nhưng khác thị thì không được kết hôn. Trong “Tả truyện” có nói “nam nữ đồng tính, kỳ sinh bất phồn”(女同姓其生不蕃), điều này thể hiện được rằng ngay từ thời Xuân Thu, người Hán đã ý thức được hôn nhân cùng huyết thống sẽ ảnh hưởng đến tố chất sức khỏe của con cái sau này.
Sau thời Tam Đại, thì tínhthị hợp lại thành một. Do sự phát triển mạnh của sức sản xuất, dẫn đến việc biến đổi to lớn chế độ Tông Pháp. Những gia đình quý tộc thủ cựu dần dần suy tàn, nô lệ được giải phóng đã trở thành những người tự do, lúc này tầng lớn bình dân do thông qua buôn bán mà giàu lên đã trở thành tầng lớp cao trong xã hội, đồng thời cũng được các tầng lớp quý tộc phong hiệu. Các đẳng cấp quý tiện trong xã hội đã có sự thay đổi mạnh mẽ. Thị ngày xưa giờ đây đã mất đi khả năng phân biệt quý tiện. Thị cũng dần mất đi tác dụng tượng trưng cho quyền lực và địa vị, giờ đây nó chỉ đơn thuần là một dấu hiệu để chỉ quan hệ huyết thống trong dòng tộc, do đó Thị đã biến đổi thành Tính và xuất hiện chế độ lấy Thị làm Tính, Tính Thị hợp lại làm một. Đến thời nhà Tần, chế độ ban Thị không được khôi phục lại nữa, những Thị trước kia giờ đây được sử dụng như là Tính của một gia tộc, hai chữ Tính Thị được gọi chung là Họ.
Việc hợp nhất giữa Tính và Thị dẫn đến sự thay đổi hết sức to lớn trong kết cấu tên họ của người Hán, làm cho kết cấu họ tên của họ đã được ổn định và đến nay vẫn không hề có sự thay đổi.
Ảnh hưởng họ của người Hán đối với họ của người Việt
Khi nói đến họ của người Việt thì ai ai cũng cho rằng họ của chúng ta hầu như là họ của người Hán nên có nguồn gốc từ Trung Quốc. Thật ra, người Việt cũng tự đặt ra những họ cho riêng mình nhưng chủ yếu là họ của các dân tộc thiểu số, còn đối với người Kinh thì đa số vẫn mang họ của người Hán.
Những người Hán đầu tiên sống trên đất nước Việt Nam chính là bọn xâm lược, họ đã phải huy động hàng chục vạn binh lính đủ loại đến đồn trú, tuần tra khắp nơi trên vùng đất Trấn Nam, Giao Châu thời ấy. Tiếp theo đó là hàng vạn người Hán tràn qua biên giới theo đoàn quân xâm lược Hán, bao gồm đủ mọi tầng lớp: là người nhà của bọn binh lính, quan lại, quý tộc, thương nhân, nho sĩ, tội nhân bị tù đày, những người tị nạn chính trị, những người muốn tìm đến một quê hương mới với hy vọng một sự đổi đời v.v.. Họ đã ở lại, thông hôn với người Việt và trở thành người bản xứ. Chính những lớp người này đã đem đến đa số họ mà người Việt có hiện nay. Ví dụ: Nguyễn Siêu nguyên là con ông Nguyễn Nê người Đà Dương tỉnh Phúc Kiến, làm quan đời Tấn đến chức Kiêu kỵ đại tướng quân. Nhân nước ta có loạn, ông này vâng mệnh vua sang đánh dẹp, sau lấy người con gái xã Thanh Quả làm tiểu thiếp, ở lại đây 39 năm, sinh được 3 con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu. Ba người này đều theo quê mẹ ở đất Việt Nam mà xưng quân (1).
 Ngoài ra vào khoảng thế kỷ 17 và 18, người Minh Hương di cư sang nước ta. Nhóm người này tập trung nhiều ở miền Trung và miền Nam Việt Nam nên đã đem một số họ người Hán vào Việt Nam. Những nhân vật lịch sử như Trịnh Hoài Đức, Mạc Thiên Tích, nhà thơ Quách Tấn đều là người Minh Hương. Đây là những nguyên nhân mà tại sao người Việt lại mang họ của người Hán nhiều như vậy.
Cho đến nay thì vấn đề người Việt bắt chước hay bị bắt ép nhận tên họ vẫn chưa có nhận định rõ ràng. Dù hai quan điểm vừa nêu trên hoàn toàn khác nhau, nhưng nhìn chung chúng tôi cảm nhận được rằng: họ của người Hán đã có ảnh hưởng lớn đến họ của người Việt. Người Việt tiếp nhận họ của người Hán xuất phát từ cả hai nguồn đó là ban đầu bị bắt ép và về sau người Việt bắt chước.

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Buông Xả Phiền Não,kiêu mạn tự phụ (P8)

 
- Buông Xả Sân Hận: Hai “kẻ thù giấu mặt: của con người là Sân Hận và Chấp Ngã. Sân Hận là bản tính tự nhiên khi người ta không vừa ý, bất mãn hay không hài lòng với sự việc nào đó. Vì hoàn cảnh không thể chống đối hay lật ngược thế cờ lấy phần thắng, người ta phải chấp nhận nhưng ghi nhớ trong tâm sự hận thù dai dẳng. Có thể thấy người quá nóng giận sẽ đưa đến sự ghét bỏ và cô độc bởi dần dần không còn ai muôn giao tiếp nữa; nhưng người ghi mãi sự thù oán trong lòng mới thật sự là đau khổ. Đau khổ ấy triền miên và mỗi ngày gặm nhắm tâm hồn khiến người ta vì thù hận mà thay đổi cả tính
cách, có khi từ kẻ hiền lương trở thành gian ác nhắm mục đích giải quyết bằng được sự thù hận ấy mới thôi.

Thông thường trong cuộc sông có hai trạng thái không Sân Hận. Thứ nhất là người yếu kém cả về tinh thần lẫn thể xác, họ không thể đối kháng được nên không dám Sân nhưng Hận lại lớn hơn những người biểu lộ bằng Sân. cổ nhân đã nói: “Chó sủa là chó không cắn” mang ý nghĩa người nóng tính thì thường bộc trực, thấy chuyện bất bình, không đúng ý mình thì phát khởi như sấm sét nhưng xong việc rồi sẽ không đeo nặng hận thù trong lòng. Loại thứ hai không hề biết đến Sân Hận là
người đã tu tập đạt tới cảnh giới Buông Bỏ, cao hơn nữa là Vô Ngã.

Vô Ngã là không còn biết mình là ai, coi như không còn “cái tôi” nên không động tâm với bất cứ việc gì xảy ra trước mắt, dù nó có ngược ngạo đến đâu cũng vậy. Người đạt tới mức độ Vô Ngã thì không nghĩ tới Buông Bỏ, không còn gì để Buông Bỏ, như thế không còn gì để Chấp Trước, mặc cho cuộc sống trôi nổi đau khổ thế nào cũng an nhiên tự tại. Đó là phương pháp tu tập cao cấp nhất mà bất cứ Phật tử nào cũng mong muôn. Thế nhưng vì Vô Ngã quá cao siêu nên người viết chỉ đề cập sơ lược trong phần CUỐI cùng của tập sách này, tùy duyên để bạn đọc tham khảo hoặc tu tập.

Buông Xả được Sân Hận thì không còn bất cứ điều gì khiến tâm của bạn phải lo lắng nữa, nó đối trị với Chấp Trước một cách tận tuyệt. Buông Xả Sân Hận không có nghĩa là bạn có tính “ba phải” hay quá dễ dãi, cũng chẳng phải là cá tính “mặc kệ nó” bàng quan với cuộc đời. Buông Xả là vẫn nhận biết được sự việc nhưng không ghi nhớ, xả bỏ một cách nhẹ nhàng như chúng ta xả bỏ những dòng nước hôi hám ra khỏi nhà. Dòng nước ấy chảy một cách tự nhiên, không cô" ý, không gắng gượng nên trong tâm bạn hoàn toàn thanh tịnh, không hề còn chút bợn nhơ về những sự việc mà người khác cô" tình hay
vô ý đưa tới với bạn. Có thể thấy rõ, cuộc đời này quá nhiều ma chướng, rất nhiều sự việc do người khác đem đến, nếu như bạn chấp nhất những ma chướng ấy thì đã chất chứa trong tâm biết bao phiền não. Một lần kia Đức Phật bị người Bà La Môn đến chửi mắng, nhục mạ rất dữ. Ngài bình thản đón nhận và sau khi thấy người ấy đã “hạ hỏa”, liền hỏi: “Nếu như ông tặng quà cho người mà người không nhận thì món quà ấy di đâu?”. Người Bà La Môn đáp: “Thì tôi đem về”. Đức Phật mĩm cười, nói: “Từ nãy giờ ông đã tặng cho tôi món quà rồi vậy nhưng tôi không nhận, xin ông hãy mang nó về đi”. Xử sự của Đức Phật quả là thong dong và giải quyết sự việc một cách dứt khoát và nhẹ nhàng, chắc sau đó ngài không còn nghĩ ngợi gì đến nó nữa, nhưng người Bà La Môn ấy chắc chắn không thể thanh thản trong lòng như Đức Phật. Chắc chắn ông ta phải suy nghĩ nhiều và hôi hận không nguôi vì hành động của mình.

Buông Xả Phiền Não: Cuộc đời không chỉ có mình ta, đó là sự mưu sinh dựa vào nhau, là cuộc sông bầy đàn cao cấp nhất. Thế nhưng cũng chính vì cuộc sống bầy đàn này mà nhiều khi phiền não đưa đến một cách khách quan, chúng ta không thể nào phòng tránh được hết, phải chấp nhận như là một thực thể mà thôi. Bạn đã biết Buông Xả những điều bất an do chính bạn gây ra nhưng đối với những phiền não từ người khác đưa tới thì sao?

Sở dĩ con người luôn luôn cảm thấy đau khổ là vì dã không từ bỏ được “chấp trước” đối với những phiền não này. Một lần đi làm, tự nhiên bạn bị một kẻ nào đó phóng xe qua mặt, ngoái lại chửi đổng một câu. Bạn ngơ ngác đến nỗi chưa nhìn rõ mặt thì hắn đã di mất. Bạn vào công ty với tâm trạng bực bội, rồi khi về nhà vẫn chưa sao quên được việc này bởi thật vô lý “mình có làm
gì dâu mà hắn ta chửi?”. Cứ như thế, dần dần bạn sẽ chất đầy những phiền muộn trong tâm và chẳng mấy chốc chính bạn sẽ trở thành cau có khó chịu, gây phiền não cho người khác mà không hay.

- Hãy tập thực hành Buông Xả đối với những chuyện nhỏ nhặt trước khi tiến tới Buông Xả những việc to tát hơn. Gặp trường hợp như vậy, đa sô" người có tâm hồn bình thường đều cười mà nhủ thầm: “Chắc là hắn bị điên” rồi lập tức bỏ qua bởi ai lại đi “chấp kẻ điên”! Đó là thái độ đúng đắn. Thế nhưng bạn không “mắng thầm” mà cũng không ghi nhận bất cứ ý kiến nào thì mới thật sự đã Buông Xả. Hãy coi việc ấy như một hạt cát theo gió vô tình bay vào mắt bạn, dụi một cái rồi thôi.
Buông Xả tính kiêu mạn tự phụ: Trong những biểu hiện của con người thì bản ngã, tức là “cái tôi” bao
giờ cũng dễ nhận thấy nhất và cũng đưa đến đau khổ phiền muộn nhiều nhất. Thế nhưng đã là con người thì không ai thoát được “cái tôi” xấu xí ấy. Từ người có học thức nhiều, địa vị cao trọng cho đến những kẻ bình dân hay thất phu cũng luôn luôn tự hào về “cái tôi” của mình mà biểu lộ ra ngoài bằng tính tự phụ, kiêu căng.

Người có học thức, địa vị cao kiêu ngạo với những gì đang có, sẵn sàng vênh mặt lên không chấp những chuyện mà họ cho rằng nhỏ nhặt, thí dụ như khoe khoang cái đồng hồ đắt tiền, căn nhà rộng hơn người khác nhưng lại rất mau nổi giận khi bị người khác chê là kém cỏi. Người bình dân nếu bị chê bai ngu dốt thì cười hì hì, sẵn sàng chấp nhận nhưng dễ nổi nóng khi bị người khác đem tiền bạc vật chất ra so sánh. Đó là tâm lý tùy theo tâm cảnh nhưng tất cả đều bắt nguồn từ “cái tôi” mà từ Đông sang
Tây tất cả đều hiểu rõ đó là nguyên nhân khiến người ta hình thành tính cách ứng xử.

“Cái tôi” của người này khác “cái tôi” người kia nên tính cách kiêu ngạo cũng khác biệt, người giàu kiêu ngạo vì của cải nên chỉ thích danh, người nghèo không cần danh thơm chỉ thích vật chất. Chúnơ ta thường thấyn người đã quá dư thừa thì rất thích giao du với giới trí thức hay văn nghệ, được “hưởng lây” tiếng thơm hay danh vọng. Họ sẵn sàng vung tiền ra mua danh hão, đó là sự “chấp trước” về “danh tướng”; hoặc người giàu rất hay tổ chức bao trọn chiếc xe để đi hành hương nhiều chùa chiền, cho rằng những lời cầu nguyện của người “đi nhờ” đều là công đức của mình. Họ bỏ tiền ra với tính
toán “mua” lại công đức của người khác chứ không phải là từ thiện hay Buông Xả.
Buông Xả không những tạo ra năng lượng giúp cho Thân và Tâm chúng ta an lạc mà còn đem lại lợi ích cho chúng sinh, nhất là những người thân thiết chung quanh ta. Trong một cuộc xô xát hay tranh luận căng thẳng, nếu như người nào cũng “đổ thêm dầu vào lửa” thì chắc chắn sự việc bùng to tới mức không kiểm soát được nữa. Thế nhưng chỉ cần một hai người ôn hòa đứng ra giải quyết thì sự việc sẽ dễ dàng được hòa giải. Buông Xả tạo cho chúng ta một sức mạnh vô hình mà người khác nhìn vào lập tức phải kính nể và tin tưởng, như vậy dù gặp bất cứ đối tượng nào hung hăng vô lý đến mấy, chỉ cần chúng ta nhẹ nhàng giải thích vài câu là sự việc chấm dứt ngay