Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013
Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013
Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013
Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013
Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013
Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013
Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013
Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013
NGŨ CHI BÁT PHÁI LÀNG MỘ TRẠCH
Soạn Thảo Phả Đồ của 5 Chi Tám Phái Làng Mộ Trạch dùng để so sánh với Họ Vũ Thôn Tống xuyên Huyện Hưng Hà Tỉnh Thái Bình.Nội Dung của Phả đồ chỉ giới hạn đến năm kỷ mão 1819 Đời Vua Gia Long trở về trước để dễ dàng so sánh với Thuỷ Tổ.
Phả Đồ 2
Phả Đồ 3
Phả Đồ 4
Hình 5
Phả Đồ 6
Phả Đồ 7
Phả Đồ 8
5 ông Tổ đầu tiên của
Ngũ Chi là:
1-Vũ Tuỳ (không rõ năm sinh) Huyện Thừa: Khởi
tổ chi Một (cha ông Tiến Sĩ Đôn).
2-Vũ Tấn (không rõ năm sinh) Thầy Thuốc: Khởi
tổ chi Hai (ông nội Hương Cống Hưu).
3-Vũ Hữu (trạng toán) Hiển Đức Đường
(1441 – 1511): đỗ Hoàng Giáp Tiến Sĩ năm 1463 (Quí Mùi) là khởi tổ chi Ba (cha
ông cống Vũ Vĩnh Phu).
4-Vũ Tráng (chưa rõ năm sinh) đỗ hướng cống,
Lang Trung, Thầy giáo và là khởi tổ chi Bốn.
5-Vũ Phong (Trạng Vật) đình uý chỉ huy Sứ. là
khởi tổ chi Năm (Lệ Trạch Đường) chi 5 có nhiều ông thành đạt và học giỏi.
1. Phái
thứ nhất: gọi là phái Giáp hay phái Tý, có cụ Vũ Quỳnh, đỗ Hoàng giáp khoa
Mậu Tuất (1478), triều vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) truyền đến đời thứ 8, Vũ
Nhân Bật không có con trai, coi như hết. Cụ Vũ Quỳnh có tên ở bia tại Văn Miếu,
Hà Nội.
Phả Đồ 1
2. Phái
thứ hai: gọi là phái Ất, hay phái Sửu, có cụ Vũ Cán, đỗ hoàng giáp khoa
Nhân Thân (1502), cụ Vũ trác Lạc đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), Văn
Miếu Hà Nội còn bia ghi tên hai cụ. Đến đời thứ 11, cụ Vũ Trác Oánh, đỗ cử
nhân, cùng Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên chống Trịnh Giang, từ năm 1735 đến
1741, .
Phả Đồ 2
3. Phái
thứ ba: gọi là phái Bính hay phái Dần, có cụ Vũ Tĩnh, đỗ Tiến sĩ, khoa Nhâm
Tuất (1562). Triều vua Mạc Phúc Nguyên (1546 – 1562), con cháu không còn ai ở
làng.
Phả Đồ 3
4. Phái
thứ tư gọi là phái Đinh hay phái Mão, có cụ Vũ Công Đạo đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ
Hợi (1659), cụ Vũ Công Lượng, đỗ dòng Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu
Hà Nội có bia ghi tên 2 cụ, nhà thờ “Thế trạch đường” còn gọi là “Tràng Xuân
Đường, có bia ghi dự tíh và thơ văn. Con cháu còn truyền nay là đời thứ 15, 16,
17.
Phả Đồ 4
5. Phái
thứ năm: gọi là phái Mậu hay phái Thìn, có cụ Vũ Đăng Long, đỗ đồng Tiến sĩ
khoa Bính Thân (1656). Văn Miếu Hà Nội có bia ghi tên cụ. Nhà thờ “Diên Khánh
Đường” và “Di trạch đường”. Con cháu còn truyên đến ngày nay là đời thứ 15, 16,
17.
Hình 5
6. Phái thứ
sáu: còn gọi là phái Kỷ, phái Thìn có cụ Vũ Công Bình đỗ đồng
tiến khoa Giáp Thìn (1664), cụ Vũ Huy Đĩnh, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất
(1754). Văn miếu Hà Nội còn bia ghi tên 2 cụ. Cụ Vũ Huy Đỉnh lại có tên trên
bảng danh sách “tể tửu tử nghiệp” Quốc tử giám cùng với cụ Vũ Quỳnh là người
phái Giáp. Nhà thờ “Tích thiện đường”, con cháu còn truyền đến ngày nay là đời
thứ 15, 16, 17 …
Phả Đồ 6
7. Phái thứ
bảy: còn gọi là phái Canh, phái Tỵ, có cụ Vũ Lân Chỉ, đỗ đồng
Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15,
16, 17 …
Phả Đồ 7
8. Phái thứ
tám: còn gọi là phái Tân, phái Ngọ, có hữu mịch Vũ Nhật Quyện.
Nhà thờ “Phúc Khánh Đường” con cháu còn truyền đến ngày nay là đời thứ 15, 16,
17 …
Phả Đồ 8
Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013
Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013
Thôn Tống Xuyên Tên Gọi Qua Cac Thời Kỳ
Lich Sử Thôn Tống Qua các Thời Kỳ
- Huyện Ngự thiên (……………)(*)
- Huyện Thần Khê (sau là huyện Tiên Hưng)
- Huyện Duyên Hà
- Huyện Cổ Lan (sau là huyện Thanh Quan)
- Huyện Duyên Hà.
- Huyện Cổ Lan.
- Huyện Thần Khê.
- Huyện Ngự Thiên “Nguyên là huyện Tân Hoá thời kỳ thuộc Minh”
- Huyên Diên Hà,
- Thần Khê
- Thanh Lan
Đời Lê Trung hưng đổi lại như cũ (1578), sau chia Sơn Nam làm 2 lộ: phủ Khoái Châu thuộc Sơn Nam Thượng, phủ Tiên Hưng (cũ là Tân Hưng) thuộc Sơn Nam Hạ (Cảnh Hưng 2, 1741).
Phủ Tiên Hưng : gồm 4 huyện, 170 làng xã.
- Huyện Ngự Thiên : Gồm 51 làng xã. (Nguyên Là Huyện Tân Hoá) (*)
- Huyện Thanh Quan : 43 làng xã
- Huyện Thần Khê : 43 xã.
- Huyện Duyên Hà : 42 xã.
Đầu đời Gia Long vẫn theo cũ, đổi gọi là trấn.
Năm Minh Mênh 3 (1822), Sơn Nam Thượng đổi gọi là trấn Sơn Nam, Sơn Nam Hạ đổi gọi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mênh 12 (1831) chia đặt các tỉnh trong toàn quốc thành lập tỉnh Hưng Yên 興安省 gồm 2 phủ, 8 huyên.
Từ đời Lê đến đầu Nguyễn, phủ Tiên Hưng gổm 4 huyện:
- Ngự Thiên đời Gia Long, năm 1808 đổi là Hưng Nhân.
- Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (1802 đổi Thanh Quan).
- Thần Khê
- Tiên Lữ Năm Tự Đức thứ 4 (1861) tách huyên Thanh Quan sang phủ Thái Bình (tỉnh Nam Định), nhưng lại hợp với huyên Tiên Lữ từ phủ Khoái Châu tách sang (Tiên Lữ thay Thanh Quan); từ đó đến đời Đồng Khánh vẫn gồm 4 huyên không đổi.
Huyện Diên Hà 12 tổng, gồm 114 xã, thôn, trang:
Tổng Hiệu Vũ: Trước tên là tổng và xã Hổng Vũ 洪武 từ 1848 kiêng chữ Hổng (Hổng Nhậm, tiểu tự của Tự Đức), đổi là Hiệu Vũ 頦武
3.Tổng Hà lão, 9 xã,
4.Tổng Thanh Triều, 10 xã,
5.Tổng Đặng Xá, 10 xã, 2 trang
Huyện này thời cổ thuộc đất quận Giao Chỉ. Từ đời Lý-Trần về sau đều gọi như tên hiện nay. Sĩ, nông, công, thương ai lo nghiệp nấy, phong tục cần kiệm chất phác.
Riêng huyện Diên Hà có truyền thống văn học khá hơn, nhưng rải rác cũng có nơi thói tục điêu gian.
Dân Hưng Nhân phần nhiều điêugian hung hãn. Các việc cưới xin ma chay cũng theo như lệ thường. Nghi lẽ thờ thần cúng Phật cũng đều theo tục lệ, không xa hoa phí phạm lắm.
Sản vật: ít lúa hè, nhiều lúa thu. Hàng năm, sau vụ gặt, thường trổng xen khoai, đậu, cà, mía, đay, bông, địa tiên, chuối, cau, cam, mít. Trong vườn nhà dân thường trổng cây chè bạng, nhưng không được ngon
lắm. Nghề dệt chiếu cói thì ở 3 xã Xuân Trúc, Kiều Thạch, Quan Khê tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân.
Ngày 10-4-1946, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bỏ đơn vị tổng, đổi phủ thành huyện. Toàn tỉnh có 12 huyện, 1 thị xã và 829 xã, thôn.
Năm 1969, sáp nhập 12 huyện thành 7 huyện và 1 Thị xã. Ðó là các huyện :
- Hưng Hà (Hưng Nhân và Duyên Hà hợp thành),
- Ðông Hưng (Ðông Quan và Tiên Hưng hợp thành),
- Quỳnh Phụ (Quỳnh Côi và Phụ Dực cũ),
- Vũ Thư (Vũ Tiên và Thư Trì), Kiến Xương
- Tiền Hải.
Cảnh quan tự nhiên do tác động của con người trở thành cảnh quan văn hoá và mối quan hệ giữa hai cảnh quan này vận động, biến đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử. Ví dụ sự đổi dòng của sông Hồng, sông Thái Bình ... có làng xưa ở ven sông nay thành làng nội đồng với tất cả sự thay đổi về tụ điểm dân cư, xây dựng nhà cửa, nề nếp canh tác, nghề nghiệp
Ðồng đất Thái Bình được hình thành dọc theo các triền sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý là những bờ bãi thuận tiện cho con người cư trú và trồng trọt. Với ưu thế của vùng đất ven biển phù sa màu mỡ nên đã cuốn hút cư dân khắp nơi về khai phá, lập làng. Có hai luồng cư dân chủ yếu vào tụ cư và hợp cư ở Thái Bình. Ðó là luồng cư dân từ miền bắc xuống và luồng dân cư từ nhiều nơi đi theo đường biển vào. Ðịa bàn tụ cư của những lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này là nơi gò cao, những sống đất cao của ven biển, phần lớn thuộc đất đai của huyện Hưng Hà
Thôn Tống xuyên qua các thời kỳ Lịch Sử:
Nhà Đông Hán (năm 25 – năm 226), Vùng đất này nằm trong vùng đất phía nam cuối cùng của huyện Chu Diên, quận Giao chỉ, nơi cuốn hút mạnh mẽ các luồng cư dân tràn về khai phá, lập làng. Với ưu thế của vùng đất ven biển, sông ngòi thuận tiện nên đã sớm trở thành nơi ẩn giấu, gây dựng lực lượng của nhiều thủ lĩnh nổi dậy chống quân Hán. Nhiều thần phả, câu đối ở đình, miếu thuộc các huyện , Hưng Hà, còn ghi rõ tên tuổi của những bà mẹ, những chàng trai, cô gái Thái Bình đã đứng lên dưới ngọn cờ đại nghĩa của bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục và tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. “Thôn Tiên La, xã Đoan Hùng huyện Hưng Hà”
Thế kỷ 6 (thời nhà Tuỳ - Lương bên Trung Quốc): Phần lớn đất đai Vùng này thuộc quận Vũ Bình, phần còn lại thuộc đất quận Ninh Hải. Ðịa thế nơi đây không hiểm trở như vùng núi cao, rừng rậm nhưng lại xa thủ phủ của bọn xâm lược nên tạo điều kiện để các cuộc khởi nghĩa bùng nổ mà điển hình là cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo., nơi nhen nhóm lực lượng đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa - nơi nhân dân đã góp xương máu xây dựng và bảo vệ nhà nước Vạn Xuân non trẻ.
Thế kỷ 7 thuộc Đất Châu Diên.
Thời Kỳ Tự chủ Ngô, Đinh, Tiền Lê là đất Đằng Châu , 藤州
Thời tiền Lê, nhà Lê đổi đạo làm lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ là hương. đổi là phủ Thái Bình 太羊府
Năm 1005,Lê Long Đĩnh đem quân đi đánh về qua, cho đổi châu làm phủ Thái Bình).
Thời nhà Lý (thế kỷ 11)Đời Lý Cao Tông lại tách riêng Đằng Châu , 藤州 và Khoái Châu .
Thời Nhà trần (1225-1400)" Ðầu thời Trần, Vùng đất này thuộc đất của hai lộ Long Hưng và Thiên Trường. Về sau thuộc đất các lộ Long Hưng (nguyên lộ cũ) và Kiến Xương, An Tiêm (lộ mới do Thiên Trường tách ra), dưới lộ là huyện, hương xã.
Ðồng đất Thái Bình được hình thành dọc theo các triền sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý là những bờ bãi thuận tiện cho con người cư trú và trồng trọt. Với ưu thế của vùng đất ven biển phù sa màu mỡ nên đã cuốn hút cư dân khắp nơi về khai phá, lập làng. Có hai luồng cư dân chủ yếu vào tụ cư và hợp cư ở Thái Bình. Ðó là luồng cư dân từ miền bắc xuống và luồng dân cư từ nhiều nơi đi theo đường biển vào. Ðịa bàn tụ cư của những lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này là nơi gò cao, những sống đất cao của ven biển, phần lớn thuộc đất đai của huyện Hưng Hà
Thôn Tống xuyên qua các thời kỳ Lịch Sử:
Nhà Đông Hán (năm 25 – năm 226), Vùng đất này nằm trong vùng đất phía nam cuối cùng của huyện Chu Diên, quận Giao chỉ, nơi cuốn hút mạnh mẽ các luồng cư dân tràn về khai phá, lập làng. Với ưu thế của vùng đất ven biển, sông ngòi thuận tiện nên đã sớm trở thành nơi ẩn giấu, gây dựng lực lượng của nhiều thủ lĩnh nổi dậy chống quân Hán. Nhiều thần phả, câu đối ở đình, miếu thuộc các huyện , Hưng Hà, còn ghi rõ tên tuổi của những bà mẹ, những chàng trai, cô gái Thái Bình đã đứng lên dưới ngọn cờ đại nghĩa của bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục và tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. “Thôn Tiên La, xã Đoan Hùng huyện Hưng Hà”
Thế kỷ 6 (thời nhà Tuỳ - Lương bên Trung Quốc): Phần lớn đất đai Vùng này thuộc quận Vũ Bình, phần còn lại thuộc đất quận Ninh Hải. Ðịa thế nơi đây không hiểm trở như vùng núi cao, rừng rậm nhưng lại xa thủ phủ của bọn xâm lược nên tạo điều kiện để các cuộc khởi nghĩa bùng nổ mà điển hình là cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo., nơi nhen nhóm lực lượng đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa - nơi nhân dân đã góp xương máu xây dựng và bảo vệ nhà nước Vạn Xuân non trẻ.
Thế kỷ 7 thuộc Đất Châu Diên.
Thời Kỳ Tự chủ Ngô, Đinh, Tiền Lê là đất Đằng Châu , 藤州
Thời tiền Lê, nhà Lê đổi đạo làm lộ, dưới lộ là phủ, dưới phủ là hương. đổi là phủ Thái Bình 太羊府
Năm 1005,Lê Long Đĩnh đem quân đi đánh về qua, cho đổi châu làm phủ Thái Bình).
Thời Nhà trần (1225-1400)" Ðầu thời Trần, Vùng đất này thuộc đất của hai lộ Long Hưng và Thiên Trường. Về sau thuộc đất các lộ Long Hưng (nguyên lộ cũ) và Kiến Xương, An Tiêm (lộ mới do Thiên Trường tách ra), dưới lộ là huyện, hương xã.
Đời Trần là đất lộ Long Hưng 龍興路 và lộ Khoái Thời
- Lộ Long Hưng gồm 4 huyện :
- Huyện Thần Khê (sau là huyện Tiên Hưng)
- Huyện Duyên Hà
- Huyện Cổ Lan (sau là huyện Thanh Quan)
Nhà Hồ đổi Lộ Long Hưng Thành Phủ Tân Hưng 新興府
Thời Kỳ thuộc Minh (Thế Kỷ 14)là đất hai phủ Kiến Xương 建昌府 và Phủ Trấn Man.
- Phủ Trấn Man 鎮蠻府 Đổi từ Phủ Tân Hưng của nhà Hồ với các huyện sau :
- Huyện Duyên Hà.
- Huyện Cổ Lan.
- Huyện Thần Khê.
Thời Lê (thế kỷ 15-18) đất đai và làng xã Vùng này h được phân chia rõ ràng và cụ thể hơn trước. Theo ghi chép của Nguyễn Thiên Tích thì số làng xã của 3 phủ
Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nước chia làm 12 đạo thừa tuyên, Vùng Đất này thuộc thừa tuyên Thiên Trường. gồm 2 Phủ 9 Huyện Phủ Khoái Châu 快州 5 huyên: Kim Động, Đông Yên, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung
Phủ Tân Hưng 新興府 Đổi từ phủ Trấn Man nhà Minh Gồm 4 huyên: - Huyện Ngự Thiên “Nguyên là huyện Tân Hoá thời kỳ thuộc Minh”
- Huyên Diên Hà,
- Thần Khê
- Thanh Lan
Năm Hồng Đức thứ 21 Tháng 4 năm 1490 cả nước chia thành 12 xứ, Vùng Đất này thuộc xứ Sơn Nam.
Nhà Mạc đổi thuộc trấn Hải Dương. Đời Lê Trung hưng đổi lại như cũ (1578), sau chia Sơn Nam làm 2 lộ: phủ Khoái Châu thuộc Sơn Nam Thượng, phủ Tiên Hưng (cũ là Tân Hưng) thuộc Sơn Nam Hạ (Cảnh Hưng 2, 1741).
Phủ Tiên Hưng : gồm 4 huyện, 170 làng xã.
- Huyện Ngự Thiên : Gồm 51 làng xã. (Nguyên Là Huyện Tân Hoá) (*)
- Huyện Thanh Quan : 43 làng xã
- Huyện Thần Khê : 43 xã.
- Huyện Duyên Hà : 42 xã.
Ở thế kỷ XVII, Vùng đất này đã thực sự trở thành một đô thị sầm uất “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, các hoạt động của nền kinh tế hàng hóa đã tạo cho Phố Hiến một cảnh nhộn nhịp đông vui của cư dân địa phương cùng thương nhân nước ngoài. Thời đó Kinh thành Thăng Long có 36 phường, thì Phố Hiến có 20 phường, trong đó có tới 8 phường thủ công, đó là nét đặc sắc của Phố Hiến, làm cho Phố Hiến khác với đô thị đương thời. Sự xuất hiện của các phường thủ công đã thể hiện tính hoàn chỉnh của một đô thị trung đại. Phố Hiến thực sự là một “tiểu Tràng An”.
Thời Tây Sơn, Vùng đất được gọi là Trấn Sơn Nam hạ, về địa danh có thay đổi chút ít nhưng về đơn vị hành chính đại thể vẫn như thời Lê (Ví dụ đổi phủ Thái Bình làm phủ Thái Ninh).Đầu đời Gia Long vẫn theo cũ, đổi gọi là trấn.
Năm Minh Mênh 3 (1822), Sơn Nam Thượng đổi gọi là trấn Sơn Nam, Sơn Nam Hạ đổi gọi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mênh 12 (1831) chia đặt các tỉnh trong toàn quốc thành lập tỉnh Hưng Yên 興安省 gồm 2 phủ, 8 huyên.
- Phủ Khoái Châu gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ của trấn Sơn Nam)
- Phủ Tiên Hưng gồm các huyện Tiên Lữ, Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định)
Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở cả hai phía sông Luộc.
Ngày 21/3/1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình. Huyện Thần Khê , Hưng Nhân, Duyên Hà của Hưng Yên, cùng hai phủ Thái Bình, Kiến Xương của Nam Định về với tỉnh Thái Bình. Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tên tỉnh Thái Bình xuất hiện. Đó là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử Thái Bình, chứng tỏ vùng đất này đã phát triển đến mức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương.
Ngày 28/11/1894, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Tiên Lữ từ phủ Tiên Hưng sang phủ Khoái Châu; hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà sáp nhập vào tỉnh Thái Bình. Kể từ đây sông Luộc trở thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình
Phủ Tiên Hưng : 先興府
Đời Lý về trước là Hương Đa Cương
Nhà Trần là Lộ Long Hưng 龍興府 (vì nhà Trần có mộ tổ ở xã Thái Đường huyện Ngự Thiên).
Nhà Hổ đổi là phủ Tân Hưng 新興府
Thời thuộc Minh là phủ Trấn Man 鎭蠻府
Nhà Lê lấy lại tên cũ là phủ Tân Hưng 新興府
Đời Lê Trung Hưng, kiêng chữ Tân (tên của Lê Duy Tân, 1600-1619), đổi là phủ Tiên Hưng 先興府Từ đời Lê đến đầu Nguyễn, phủ Tiên Hưng gổm 4 huyện:
- Ngự Thiên đời Gia Long, năm 1808 đổi là Hưng Nhân.
- Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan (1802 đổi Thanh Quan).
- Thần Khê
- Tiên Lữ Năm Tự Đức thứ 4 (1861) tách huyên Thanh Quan sang phủ Thái Bình (tỉnh Nam Định), nhưng lại hợp với huyên Tiên Lữ từ phủ Khoái Châu tách sang (Tiên Lữ thay Thanh Quan); từ đó đến đời Đồng Khánh vẫn gồm 4 huyên không đổi.
Huyện Diên Hà 12 tổng, gồm 114 xã, thôn, trang:
Huyên Diên Hà 延 河 縣 (cũng đọc là Duyên Hà): Tên huyên đặt từ đời Trần từ đời Lý). Thời thuộc Minh cũng gọi là huyên Diên Hà. Nhà Lê đặt thuộc phủ Tân Hưng (sau là Tiên Hưng). Qua các triều, đến đời Đồng Khánh không đổi. Từ 1891 tách sang tỉnh Thái Bình.
Huyện Hưng Nhân, 6 tổng , gồm 56 xã, thôn, trang: Theo dư địa chí đồng khánh
Huyên Hưng Nhân: Đời Trần tên là huyên Ngự Thiên 御天縣 thuộc Lộ Long Hưng. Thời thuộc Minh đổi là
Huyên Tân Hoá 新化 Phủ Trấn Man. Đời Lê lấy lại tên cũ là Ngự Thiên. Năm Gia Long 7 (1808) đổi là huyên Hưng Nhân 興仁縣 Sau đời Đồng Khánh tách sang tỉnh Thái Bình mới
Huyên Tân Hoá 新化 Phủ Trấn Man. Đời Lê lấy lại tên cũ là Ngự Thiên. Năm Gia Long 7 (1808) đổi là huyên Hưng Nhân 興仁縣 Sau đời Đồng Khánh tách sang tỉnh Thái Bình mới
1.Tổng Tống Súc, 8 xã, 1 trang:
1.Xã Tống Súc 2.Xã Phúc Tiên 3.Xã Phúc Hải 4.Xã Khánh Mỹ
5.Xã Nhân Xá 6.Xã Ngữ Khê 7.Xã Ngữ Thuỷ 8.Xã Khuông Phù
Trang Khả La
Xã Khuông Phù: Trước tên là xã Phù Ngự 扶御 ; sau năm Tự Đức 6 (1853) kiêng các từ tôn kính, đổi là Khuông Phù 匡扶
2.Tổng Hiệu Vũ, 8 xã, trang:
1.Xã Hiệu Vũ 2.Xã Đào xá 3.Xã Nham Lang 4.Xã Bái trạch: Thôn Hoà,
5.Xã Bái Trạch: Thôn quyên 6.Xã cầu công 7.Xã Yên Cầu 8.Xã Lưu XáTổng Hiệu Vũ: Trước tên là tổng và xã Hổng Vũ 洪武 từ 1848 kiêng chữ Hổng (Hổng Nhậm, tiểu tự của Tự Đức), đổi là Hiệu Vũ 頦武
1.Xã Hà lão 2.Xã Nhật tảo 3.Xã Ứng Lôi 4.Xã Phú Hoà,
5.Xã Lão Khê 6.Xã Phú Vật 7.Xã An Nghiệp 8.Xã Mai Lĩnh
9.Xã Thuý Lam
Xã Nhật Tảo: Trước tên là xã Nhật Cảo. Từ năm 1836 kiêng đổng âm chữ Cảo (biệt danh của Gia Long), đổi là Nhật Tảo 日早 .
Xã An Nghiệp: Trứơc tên là xã An Triền 安廛 ; từ 1843 kiêng chữ Triền (cận âm với tên huý vua Thiệu Trị), đổi là An Nghiệp 安業 .
1.Xã Thanh Triều 2.Xã Hải Triều 3.Xã Bùi Xá 4.Xã Hà xá,
5.Xã Mỹ Xá 6.Xã Thuỵ Vân 7.Xã Kiều Thạch 8.Xã Xuân Trúc
9.Xã Tây Xuyên 10. Thôn Quan Khuê.
5.Tổng Quan Bế, 7 xã,
1.Xã Quan Bế 2.Xã Lương Khê 3.Xã An Xá 4.Xã Tảo Sơn
5.Xã Lương xá 6.Xã Quan Hà 7.Xã Phú Khê5.Tổng Đặng Xá, 10 xã, 2 trang
1.Xã Đặng Xá 2.Xã Dương Khê 3.Xã Thái Đường 4.Xã Triêm Ân
5.Xã Dương Xá 6.Xã Tây Nha 7.Xã Thanh Nga 8. Xã Do Đạo
9.Xã Hưng Nhân 10.Xã Trác Dương 11.Trang Đồng nỗ 12. Trang Đồng vọng .
Xã Triêm Ân: Trước tên là xã Kính Ân. Từ 1862 kiêng chữ Kính, đổi là Triêm Ân 霞恩Dân Hưng Nhân phần nhiều điêugian hung hãn. Các việc cưới xin ma chay cũng theo như lệ thường. Nghi lẽ thờ thần cúng Phật cũng đều theo tục lệ, không xa hoa phí phạm lắm.
Sản vật: ít lúa hè, nhiều lúa thu. Hàng năm, sau vụ gặt, thường trổng xen khoai, đậu, cà, mía, đay, bông, địa tiên, chuối, cau, cam, mít. Trong vườn nhà dân thường trổng cây chè bạng, nhưng không được ngon
lắm. Nghề dệt chiếu cói thì ở 3 xã Xuân Trúc, Kiều Thạch, Quan Khê tổng Thanh Triều huyện Hưng Nhân.
- Hưng Hà (Hưng Nhân và Duyên Hà hợp thành),
- Ðông Hưng (Ðông Quan và Tiên Hưng hợp thành),
- Quỳnh Phụ (Quỳnh Côi và Phụ Dực cũ),
- Vũ Thư (Vũ Tiên và Thư Trì), Kiến Xương
- Tiền Hải.
Năm 1957 Xã Thái Hưng đươc thành lập theo Quyết định. 485/1957/QĐ-TCCP Gồm 8 thôn Tân Dương, Thôn Đồng Vọng, Thông Dương Xuân, Thôn Tống Xuyên, Thôn Chiềng, Thôn Trại, thôn Phú Ốc
Theo những tư liệu đã nêu ở Trên thì địa danh này đã xuất hiện cách đây trên dưới 1000 năm. Năm Nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc còn ghi dấu ấn tại Tống xuyên. Về mặt di tích, nơi đây còn một quần thể trải đều liên hoàn trong tất cả các thôn với đủ loại hạng mục như đình, chùa, đền, phủ, miếu, am, quán, lăng mộ, nhà thờ danh nhân, Trải qua nhiều biến cố lịch sử, từng thành tố đơn lẻ của thôn cổ có bị thay đổi và có niên đại xây dựng không sớm, nhưng về tổng thể, khu vực này vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian thôn của một thôn cổ thuần Việt.
Vũ Gia Tường Tham Khảo Nhiều sách trong đó có Đồng Khánh Dư Địa Chí
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)