Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Kinh Nghiệm Điều Hành Họ.

 Mở đầu có ý kiến nêu lên: Việc họ đã có tộc trưởng, tự ngàn xưa đã vậy, lớp ông cha
ta cũng vậy, ta cứ thế noi theo, việc gì mà phải bàn ngược bàn xuôi?
Thế là nổi lên một cuộc bàn cãi sôi nổi giữa những người chăm lo việc họ, chung
quanh vấn đề:
Nên có một cơ cấu điểu hành việc họ như thế nào cho phù họp vớí cơ
chê mới, hay cứ để một mình tộc trưởng lo liệu?
-       Tộc trưởng ngày xưa đã có ruộng hương hoả. Họ lớn có ruộng hương hoả của họ
lớn, họ bé có ruộng hương hoả của họ bé, ngay từng gia đinh giầu hay nghèo cũng vậy,
người con trưởng đã có phần hương hoả ghi trong chúc thư. Trưởng khuyết (không có con
trai nối dòng, hoặc phiêu bạt xa quê) thì thứ lẽn thay, hàng năm lấy tiền thóc tô mà biện lễ
giỗ lễ tết, vì vậy hương khói không bao giờ dứt. Quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, ruộng đất
ngày nay thuộc sở hữu toàn dân, các họ không còn ruộng hương hoả hay tự điền gì khác
nữa, thiết tưởng ngày nay không thể cột trách nhiệm cho tộc trưởng y như thời xưa, vả lại
gia đình tộc trưởng cũng phải lo sinh kế làm ăn hoặc có người tham gia công tác xã hội ở
phựơng xa.
-       Thời trước, với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp, nhân dân nước ta,
tuyệt đại bộ phận là nông dân, suốt đời không rời khỏi xóm làng, cá biệt cư trú sang làng
bên cạnh cũng gọi là "biệt tổ ly tông". Thời nay đất nước ta ngày càng công nghiệp hoá,
nông thôn trên đà chuyển hoá, họ hàng ngày càng có nhiều người ly tán xa quê, tình trạng
khuyết trưỏng ngày càng phổ biến trong phần lớn các họ và chi họ. Đó là hợp quy luật
phát triển.
-       Theo phong tục, anh con trai trưỏng mất thì cháu đích tôn lên thay, các chú vẫn
đứng hàng thứ, hàng phụ. Suy rộng ra cả họ, có tộc trưởng đang nằm trong nôi, trong khi
các chi thứ đã có các vị cao tuổi lên hàng cụ kị. Trong trường hợp đó, các bậc thúc phụ
phải tạm thời phò tá cho đến năm cháu tộc trưởng đến tuổi trưởng thành, cũng như công
việc triều đình: Nếu vua còn trẻ, phải có phụ chính đại thần phò vua theo di chiếu của vua
cha để lại.
-       Vai trò tộc trưởng, trưởng chi và các bậc thúc phụ hết sức quan trọng trong việc
phục hồi, phát triển, xây dựng họ, nhất là về mặt lễ nghi, tê' tự. Nhưng trong quá trình phục
hồi, xây dựng có nhiều việc phải làm: gia phả, từ đường, tế khí, phần mộ, lễ nghi v.v... Cho
dù họ có tộc trưởng nhiệt tình, năng lực cũng không thể kham nổi mọi việc, phải có một cơ
cấu tổ chức đủ khả năng điều hành công việc. Tổ chức đó được đặt tên là gì?
-       Đặt tên là hội đồng gì, ban gì không quan trọng, vả lại chưa có quy định thống nhất
về tên gọi tổ chức, chức năng, nhiệm kỳ, cơ cấu, thành phần V. V... nhưng tổ chức đó phải
gồm những thành viên nhiệt tình, tương đối có ảnh hưởng uy tín đối với con cháu trong họ,
có đủ khả năng, trình độ điều hành quản lý các việc đối nội, đối ngoại của họ.
Có một số kinh nghiêm của dòng Họ Khác để tham khảo.
-        Không nên mọi việc đều dồn trách nhiệm cho tộc trưởng.
-       Đúng, Họ tôi tộc trưỏng đi vắng, tộc trưởng cũng chẳng giao cho ai thay.
-       Họ tôi tộc trưởng và hầu hết trưởng các tiểu chi đều ở nhà nhưng chỉ là hàng con
cháu, lại không có khả năng điều hành công việc.
-       Tộc trưởng họ tôi sinh hoạt kinh tế khó khăn, làm ăn lam lũ, con cái nheo nhóc,
thỉnh thoảng đi làm xa, nên ít có điều kiện quan tâm đến việc họ.
-       Tộc trưởng họ tôi rất nhiệt tình, nhưng nghèo và già yếu quá.
-       Họ tôi có nhiều cụ cao tuổi, bằng vai với ông nội chúng tôi, việc gì cũng phải do
các cụ, các bác bàn bạc quyết định, con cháu chỉ biết tuân theo. Nhưng bàn cãi thì nhiều,
ai cũng lý sự giỏi, bàn xong việc để đó chẳng ai làm.
-               Họ chúng tôi khá đông nhưng nghèo quá, ít ai có "máu mặt", tộc trưởng quá yếu,
không có ai đứng ra cáng đáng việc chung cho Họ,
-       Họ chúng tôi, tộc trưởng lưu lạc phương xa Trong hoàn cảnh này, phục hồi việc họ quả là khó
-        Họ chúng tôi hoàn cảnh mấy chục năm về trước cũng tương tự, may nhờ tổ tiên
còn linh thiêng gọi được một số cụ hưu trí về quê, chăm lo việc họ. Nhờ đó Họ tôi SƯU tầm
và dịch được gia phả phổ biến cho con cháu, gây cho con cháu niềm tự hào chính đáng,
-        Một sô' người nhiệt tình chăm lo việc họ đã làm cho Họ chúng tôi mở mày mỏ mặ
bằng anh, bằng chị, nhưng vì không có cơ cấu tổ chức bền vững, nên Họ chúng tôi lại trở
lại tình trạng mấy chục năm về trước: Họ hàng tản mác, thậm chí có người nói: "Có Họ
càng hay, không Họ cũng chẳng sao!"
-        Các vị tổ tiên Họ chúng tôi từ triều Trần, triều Lê đậu đạt cao, chức tước lớn, cc
nhiều vị đậu tiến sĩ, có bia ở Văn Miếu. Chúng tôi đã sao chụp về dựng trước nhà thờ Tổ
làm cho con cháu tự hào phấn khởi, qua đó trong từ đường, ngoài nghĩa trang,
hoành phi, câu đối, chiêng trống cờ quạt... được con cháu xa gần đóng góp xây dựng ngày
càng khang trang, tình cảm nội tộc cũng từ đó càng thêm mật thiết.
-        Họ chúng tôi nói chung còn nghèo, các vị tổ tiên thời xưa, cũng không mấy người
hiển đạt, nhiều người học chữ Nho cũng chỉ làm thầy đồ, thầy thuốc, thầy số, thời nay
cũng chẳng có ai chức vụ lớn, hoặc có con cháu đi nước ngoài. Nhưng nhờ có vị Thần Tổ
rất thiêng phù trì phù hộ, nên bom đạn Mỹ cày xới cả quê hương, mà nhà thờ Họ chúng tôi
chỉ rơi rụng vài viên ngói, con cháu có mặt khắp các chiến trường chống Pháp, chống Mỹ
chỉ vài người bị thương tích nhẹ. Vì ai cũng nghĩ phúc Tổ cao dày, nên việc Họ được mọi
người tự nguyện tham gia. Các gia đình, ai dốc lòng thành kính chăm lo việc Họ thì tự
nhiên sau năm bảy năm đều làm ăn nên nổi, mặc dù chẳng ai nổi giàu, nhưng đều khấm
khá hơn lên: Người thì cưói được dâu hiền rể thảo, người thì sinh con trai con gái thông
minh tuấn tú, người thì dựng được nhà cửa khang trang, trong họ nhiều cụ ông, cụ bà thọ
tám chín mươi vẫn còn mạnh khoẻ, một sô' gia đinh vận hạn rủi ro đều tai qua nạn kf)ổi.
-       Họ chúng tôi tuy tộc trưởng ỏ xa, nhưng nhờ có Hội đồng Gia tộc đồng tâm nhất trí làm việc đều tay, tuỳ khả năng hoàn cảnh từng người mà phân công cụ thể, xếp việc chia
thành các tiểu ban: Gia phả, Lễ nghi khánh tiết, Xây dựng, Bảo thọ, Đối ngoại, Tài
chánh,.. Họ lại có bản dự thảo tộc ước quy định trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng. Trưởng
Hội đồng là người có uy tín ảnh hưởng lớn trong họ, nên mấy năm nay phong trào việc Họ
nổi hẳn lên. Chẳng những con cháu hào hứng phấn khởi, mà các họ khác cũng hết lời ca
ngợi. Hội đồng Gia tộc còn có sáng kiến vận động được tài năng, trí tuệ, tiền của của con
cháu các vùng xa quê đóng góp, vận động được các nàng dâu, con gái và cháu ngoại gần
xa cùng chung lo việc Họ. Vì vậy từ tay không Họ đã sửa sang được nhà thờ Tổ, mua sắm
được tế khí khang trang, quỵ tụ được mồ mả tổ tiên, lập nghĩa trang của Họ uy nghi.
 
Tóm lại, thời đại mối, cơ chê' mới, việc họ cũng cần đổi mới; đã là một tổ chức, một
tập thể, muốn cho tổ chức đó, tập thể đó bền vững thì phải có một cơ cấu quản lý điều
hành thích
hợp. Đó là Hội Đồng Gia Tộc Và Tộc Ước.

Nghệ Thuật Buông (P7)


Trong cuộc sống thường ngày, hầu hết người ta sinh ra là đã có ý tưởng phải đem toàn bộ sức lực và tri thức của mình ra để kiềm đồng tiền và vật chất, càng nhiều càng có hạnh phúc. Đối với những người thành đạt, vợ đẹp con khôn, họ không có ý nghĩ cuộc đời này là đau khổ. Họ tự mãn về những gì mình dã đạt tới và gọi đó là “hạnh phúc” trần gian. Thế nhưng “hạnh phúc là gì” thì thật khó định nghĩa bởi đó là trạng thái hết sức trừu tượng.

Bạn vô tình trúng số độc đắc, như vậy là hạnh phúc rồi sao? Thật sự đó là trạng thái “sung sướng” và “thỏa mãn” bởi không tốn công sức cũng nhận được sô" tiền lớn, chưa phải là hạnh phúc. Sau khi trúng số, bạn gặp vô vàn bực bội bởi người này đòi hỏi, người kia muôn chia chác, kẻ ganh ghét với may mắn của bạn tung lời vu cáo khiến bạn mất việc, v.v... toàn là đau khổ mà thôi, như
vậy đâu phải là hạnh phúc?
Bạn yêu mến một người con gái, ngỏ lời cầu hôn, lập tức được chấp nhận, chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc. Thế nhưng niềm “sung sướng và thỏa mãn” ấy chẳng được bao lâu thì hai vợ chồng nảy sinh xung khắc, cuộc sông gia đình trở thành địa ngục, như vậy có phải là hạnh phúc thật sự chăng? Tiếc rằng mọi người đều mang nặng ý tưởng muôn “nhận về” chứ không bao giờ chịu “từ chối” hay “buông bỏ”. Nên nhớ rằng tất cả sự việc trên đời này đều có hai mặt, Xấu và Tốt, Âm và Dương, nhận lấy may mắn vật chất tức là cũng đồng thời nhận lấy những điều xui xẻo đi cùng với nó. Thật ra càng “nhận”
nhiều bao nhiêu người ta càng cảm thấy thiếu thôn và
cô đơn nhiều hơn bởi hai nguyên nhân: lòng tham không đáy và sự xa lánh vì mất đi tình cảm.
Có những người tham mê vật chất đến mức chẳng từ thủ đoạn nào để chiếm đoạt, đồ đạc quý giá chất đầy nhà nhưng rồi đêm đêm họ mở tủ ra đếm tiền, lấy đó làm niềm hạnh phúc. Thật sự đó là “sự sung sướng” nhât thời, là “hạnh phúc” của tính ích kỷ, là vì đã thỏa mãn được bản châ't chiếm đoạt, không phải là hạnh phúc chân chính. Thế nhưng nếu bạn biết buông bỏ, chỉ cần một sô' tiền nhỏ thôi cho tặng người nghèo, cảm xúc hạnh phúc sẽ đến với bạn, nhất là nhờ số tiền ấy người kia thoát khỏi đói nghèo, mỗi ngày thêm thăng tiến và giàu có, thậm chí có thể giàu hơn bạn nữa thì đó mới là hạnh phúc tuyệt vời. Niềm hạnh phúc này không thể mô tả được, chỉ khi nào bạn thực hiện thì mới mong cảm nhận
được nó ra sao.
Trong những tình cảm của con người, tình yêu trai gái là mạnh mẽ nhất bởi nó kết hợp cả tình cảm lẫn tính mê đắm “sắc tướng”. Tình yêu trai gái là tình cảm nhưng chỉ thăng hoa một khi có kết hợp với xác thịt, vì yậy không ít bạn trẻ đã mê lầm rồi sau khi lấy nhau xong than thở là “không tìm thấy hạnh phúc”. Đó là do bạn đã quá coi trọng “sắc tướng” và tham dục chứ tình cảm thật sự là tôn trọng và yêu mến nhau trong tinh thần bình đẳng. Người con trai trời phú cho tính dục mạnh mẽ nên hầu hết đều mong muốn chiếm đoạt. Với. suy nghĩ ấy tất
nhiên bạn không thể tìm ra hạnh phúc Mi “chiếm đoạt”
không bao giờ đi đôi với hạnh phúc.

Trong những chuyến hải hành, người thuyền trưởng có khi phải quyết định quăng bỏ những gì làm cho con tàu gặp nguy hiểm. Chúng ta cũng vậy, “nhận về” như thê nào cho vừa đủ cuộc sông là đã ít nhiều cảm nhận được hạnh phúc, nếu như lại biết buông bỏ những gì làm tâm ta đầy ắp lo toan thì càng thanh thản và an lạc hơn. Đó mới chính là hạnh phúc chân chính và lâu bền. “Con tàu” tâm hồn của người ta không thể cái gì cũng chất đầy vào, sẽ có một ngày gặp phong ba và sẽ chìm đám. “Buông Xả” chính là phương cách giúp cho “con tàu” này nhẹ nhàng trên chuyến hải hành tìm đến hạnh phúc và an lạc.
Bạn Buông Xả từ đâu, những gì cần Buông Xả và Buông Xả thê nào? Bởi vì Buông Xả là một vấn đề khá rộng lớn, lại có ý nghĩa cao rộng nên những Phật tử muốn có tâm tu tập đức hạnh này không biết phải bắt đầu như thế nào, băn khoăn với những câu hỏi kể trên.
Để nhận biết Buông Xả một cách đơn giản theo tính cách khoa học, tạm thời chúng ta có thể “hệ thông hóa” thành những phần nhỏ rồi tùy theo cơ duyên mà rèn tập dần dần, tất cả phải đặt trên căn bản Từ Bi và cố gắng loại trừ “chấp ngã” trước nhất.

- Tự xét mình và Buông Xả với chính mình: Đối với các hiền sĩ Đông phương ngày trước, tự xét mình là đức hạnh cao cả nhất mà họ phải cô" tâm rèn tập. Khổng Tử đã khẳng định về việc này bằng hai câu nói súc tích: “Có lỗi mà không sửa thì đúng là có lỗi vậy” “Không tự biết mình, chăm lo sửa lỗi cho mình được mỗi ngày một hoàn thiện hơn thì quả là cái lỗi lớn nhất của người quân tử. Lỗi nhỏ mà không sửa được thì còn dũng cảm đâu để mà sửa lỗi lớn và cứ như thế lỗi lầm chồng chất mãi”.
Tuy nhiên nói thì dễ mà làm rất khó bởi đã biết xét mình, đã nhận ra lỗi lầm của mình nhưng nếu chưa tiêu diệt được “cái tôi” thì vẫn có thể ngấm ngầm cho rằng mình đúng, chỉ vì nguyên do nào đó mới hành sử sai lạc như vậy. “Cái tôi” của con người có rất nhiều lý lẽ để ngụy biện như vậy và ngay cả bậc được gọi là hiền nhân vẫn có lúc hành xử không phù hợp với lợi ích của đại đa sô" người dân, chưa chịu sửa đổi ngay. Trong sách Mạnh
Tử có chép một câu chuyện:
“Đới Doanh Chi là Đại phu ở nước Tông, một lần được gặp Mạnh Tử liền thỉnh giáo:
- Theo cổ chế thì ruộng nương đánh thuế bằng phép tĩnh điền, chợ búa và cửa ải chĩ xét hỏi chứ không thu thuế. Như vậy người dân được nhẹ gánh lo nhưng hiện tại chưa thể làm ngay được. Tôi định đến sang năm mới tâu xin triều đình bãi bỏ và áp dụng thuế má như cổ chế có được không?
Mạnh Tử đáp:
Có một người mỗi ngày đều ăn cắp một con gà. Người khác biết chuyện liền khuyên anh ta đừng làm như thê nữa mà mất tư cách của mình đi. Người ăn trộm gà đáp: “Ông khuyên phải lắm, nhưng tôi đã quen rồi, xin được từ bỏ dần dần. Kể từ nay mỗi tháng tôi chỉ lấy cắp một con thôi, đến năm sau sẽ chừa hẳn”. Người ấy nói như thế ngài có nghe được không? Phàm bất cứ việc gì, một khi đã nhận ra là trái đạo nghĩa là phải từ bỏ, sửa chữa cho mau, sao còn đợi đến năm sau mới làm?”.
Câu chuyện đã nêu ra tính cách không đồng bộ giữa việc tự xét mình và thực thi. Chỉ cần có một cái tâm sáng suốt là con người có thể nhận ra được những lỗi lầm của mình nhưng sửa đổi hay từ bỏ nó lại là cả một vấn đề do thói quen (tập nhiễm) đã ghi khắc vào trong tâm trí từ lâu rồi. Như vậy để tu tập được hạnh Buông Xả, trước  tiên chúng ta phải tự xét mình và Buông Xả với chính mình rồi mới có thể tiến tới Buông Xả cho người, cuối cùng là Vô Ngã chẳng còn ta mà cũng chẳng còn người.
Mọi việc trên thế gian này giống như “bóng câu qua cửa sổ” có thể ghi nhận được đó nhưng rồi mau chóng mất hẳn, tâm trí hoàn toàn bình lặng không xao động dù sự việc có lớn lao thế nào, có thiệt hại cho mình bao nhiêu cũng vẫn có thể chuyển hóa bằng lòng Từ Bi với mục đích làm lợi cho tha nhân.
Sự việc trên thế gian phải như vậy bởi lòng Sân Hận, Si Mê tràn đầy, chúng ta ghi nhận nó vào trong tâm hồn thì chính chúng ta tạo ra đau khổ cho mình, người gây ra Sân Hận có khi hoàn toàn thanh thản bởi tính cách vô minh. Thí dụ như một người vô tư ăn xong quăng vỏ chuôi ra đường, họ đâu có biết cái vỏ chuôi ấy sẽ làm cho
người khác trượt chân ngã đau.

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Việc Họ Dễ Hay Khó

 
Chăm lo việc họ là xuất phát từ trong sâu thẳm tấm lòng thành kính với tổ tiên, gắn kết tình đồng tộc. Tham gia vào việc họ rất dễ và cũng rất khó! Bởi vì, việc họ cần hoàn toàn tự nguyện, nhưng cũng cần được ủng hộ, khuyến khích, không thể bỏ mặc…

Dễ vì bất cứ ai, không kể sang hèn, giàu nghèo, già trẻ, trình độ chính trị, văn hoá cao hay thấp, chính kiến quan điểm hay hay dở, ai có lòng thành kính với tổ tiên, thân ái với họ hàng, đều làm được.

Khó vì muốn họ hàng ngày càng thịnh vượng, gắn bó đùm bọc nhau, muốn động viên toàn bộ con cháu trong họ lớn, họ bé chung sức chung lòng, thì người chủ trì chăm lo việc họ phải có đủ 4 yếu tố: Tâm, Trí, , Tài Thể

Nếu người đó hội đủ các yếu tố:

                      Tâm (Hiếu đễ, Hòa , trách nhiệm…),

                      Tài (khả năng tài chính đủ ăn, đủ chi),

                      Trí (hiểu biết về xã hội, về lệ tục, có trình độ,)

                      Thể (có sức khỏe, xốc vác, minh mẫn)

thì gia đình đó hay Chi, Phái đó hoặc toàn Gia tộc sẽ vững vàng đi vào hưng thịnh. Đây là người Thiên định, không phải do bầu, do cử hay tranh mà được. Nhưng khó ai hội đủ 4T đó nên căn bản nhất vẫn là cái Tâm. Tâm sáng, lòng trong thì có thể vượt qua được, xứng là ngọn cờ tập hợp toàn gia, dù có nhiều khó khăn trắc trở.

Nói vậy nhưng rất phức tạp, muôn hình muôn vẻ, vì "Tộc là tình" chẳng có quyền lực nào áp đặt, gò ép mọi người trong họ phải tuân theo.

Lo việc tổ tiên, họ hàng là hoàn toàn tự nguyện, chẳng đợi ai giao, chỉ có con tim khối óc mình, làm tốt không có huân chương, không được đãi ngộ, nhưng làm sai, làm hỏng việc, làm tổn thương tình cảm dễ bị khiển trách.

Lo việc cho tổ tiên, họ hàng dầu đóng góp công sức tiền của lớn đến đâu cũng không thể kể công, dẫu phục vụ suốt đời cũng chỉ mới mảy may đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.

Thờ cúng Tổ tiên dòng họ cốt ở lòng thành, với cái tâm, chứ không phải ở cái danh, cái hình thức, sự thành kính với ông bà tổ tiên, không nhất thiết phải linh đình, mâm cao, cỗ đầy, chỉ nén hương thơm, chén nước tinh khiết cũng được. Nhưng bên cạnh đó cũng tùy tâm, tùy khả năng, nhưng cũng không nên quá lãng phí. Trước là để bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên, sau là con cháu thụ lộc, chung vui. Xác định việc thờ cúng không phải là phụng dưỡng, mà là tấm lòng tôn kính, tri ân với công đức đời trước, đồng thời giáo dục cho thế hệ sau luôn biết uống nước nhớ nguồn, sống có hiếu, có nhân.

1.     Việc họ dễ ở chỗ là bất kỳ ai cũng có thể tham gia, không kể trưởng thứ, già trẻ, nội ngoại, dâu rể, nam nữ, sang hèn, trình độ, cứ có lòng thành kính, có tâm với tổ tiên là tham gia được.

2.         Nhưng việc họ khó là ở chỗ đó là phải làm sao quy tụ, gắn kết được họ hàng, làm cho họ hàng đoàn kết và thịnh vượng.

3.         Việc họ khó còn thể hiện ở chỗ đó là không kể khi nghèo hèn mà có sự thờ ơ hay lúc sang giàu mà có sự thái quá, mà phải luôn một lòng thành kính với tổ tiên, khi nghèo thì cũng phải làm sao cho đúng và đủ phong tục lễ nghi, dù lễ vật không lớn, khi giàu thì cũng không nên mâm cao cỗ đầy quá đáng, nghĩ ra đủ thứ ghi thức không có, không đúng với tín ngưỡng.

4.         Việc họ khó còn thể hiện ở chỗ đó là không chỉ biết bản thân mình, biết cha mẹ mình, các thế hệ gần gũi với mình, mà phải biết mọi người trong dòng họ đều như nhau, không kể xa gần.

5.         Việc họ khó còn thể hiện ở chỗ làm sao phải biết duy trì các truyền thống, nét đẹp của dòng họ, làm sao các thế hệ con cháu luôn tự hào, phát huy truyền thống tốt đẹp đó, để học tập, rèn luyện trở thành con ngoan, trò giỏi, công dân có ích. Đây chính là việc quan trọng nhất của việc họ, là việc mà tổ tiên ông bà luôn mong muốn: “con hơn cha là nhà có phúc”.

6.         Tham gia vào việc họ không tính toán được gì, mất gì, không cầu lợi, cầu danh, mà phải xác định là việc của mình, việc của nhà mình.

7.         Việc họ khó còn thể hiện ở chỗ là làm sao với cái tâm được duy trì liên tục, chứ không phải hôm nay làm tốt, ngày mai lại sao nhãng.

8.          Việc họ nghe cứ ngỡ cao xa, nhưng thật ra rất gần gũi, gần gũi nhưng cũng không phải là dễ nếu không thật sự tâm huyết.

9.       Việc họ nên bàn bạc thống nhất, “chín bỏ làm mười”. Giao cho ai chủ trì, thì theo người đó.  Nhất là những người cao tuổi, ai cũng có kinh nghiệm của mình. Nhiều khi phải khéo léo vận động trong “nhóm trung kiên” để có “tiền hô hậu ủng” khi đưa ra số đông. Nhưng đối với những việc hoàn toàn có hại thì phải chân thành góp ý ngay.

Tham gia vào việc họ phải công tâm, không suy bì. Chọn người tốt, “chọn mặt gửi vàng”. Người được giao phải hết sức công tâm và thận trọng.Trên đây là một vài suy nghĩ về công việc của dòng họ, rất mong được sự góp ý của anh chị em, các chú, các bác và bà con trong họ.

Bia Ghi Quá trình Xây Dựng Nhà Thờ Tổ


Uống Nước Nhớ nguồn
Ai là hậu duệ họ vũ cụ Vũ Tam Lang hiệu Phúc Quảng “Kỵ nhật ngày 25-12 cụ bà lưu thị Hành, đều nhớ đến câu đối :                              
                                                             Tử Tử Tôn Tôn Nhớ Công Đức
                                                             Đời Đời Kiếp Kiếp Giữ Thanh Danh
Thưa quá vị có nguồn gốc sinh ra từ Họ Vũ ở làng  Tống Xuyên (Tống Súc xã thái Hưng Huyện Hưng Hà (Hưng Nhân Cũ) tỉnh thái Bình tới nay đã là 13 đời thì đều hiểu công đức và thanh danh của tổ tiên để lại cho chúng ta thật là trời biển. Ai cũng ghi nhớ. Thật đúng như dân gian đã dậy trong ca giao:
“Cây có gốc mới nở cành xanh lá
 
Nước có nguồn mới  biển cả sông sâu
 
Người ta nguồn gốc ở đâu
 
Có tổ tiên trước rồi sau có mình”

Thưa quý vi thưa các cụ các ông các bà các anh các chị các chú các thím các cô các cháu, các chút các chit. Là hậu duệ họ vũ đang sinh sống ở thôn Tống Xuyên và từ quê hương đây di xây dựng cuôc sống trên mọi miền của tổ quốc Việt Nam và nước ngoài. Họ vũ mình và các cụ đời trước đã có ý tưởng xây dựng nhà thờ họ Vũ từ lâu. Họp bàn nhiều lần song phải đến hai cuộc họp ngày 25-9 và 20-11 năm Đinh Hợi (2007) Mới quyết định được.
Thành phần cuộc họp gồm:
Đời thứ 10:  các Cụ Vũ Doãn lạp Vũ Công Thành Vũ Tiên Diên, Vũ Tiến Điện, vũ Doãn Quyền, Vũ Đức Thiềm, Vũ Đức Kiểm, Vũ Đức Tuấn Vũ Đức Toản Vũ Đức Tuân, Vũ Đức Dễ Vũ Đức Truyền, Vũ Đức Long, Vũ Đức Cơ, Vũ Thị Dưỡng.
Đời Thứ 11: có các vị Vũ Trọng Đại, Vũ Duy Thuỷ Vũ Duy Hùng (Bắc Ninh) Vũ Doãn Tịch, Vũ Doãn Đệ, Vũ Doãn Đốc, Vũ Doãn Đổng, Vũ Doãn Lân, Vũ Doãn Dũng, Vũ Doãn Dân, Vũ Anh Tú, Vũ Tú Anh, Giáp Văn Tải (chồng Vũ Thị Duyên) Vũ Thị Thiện.
Đời Thứ 12 : Vũ Quang Dũng, Vũ Doãn Chinh Vũ Doãn Lâm,Vũ thị Thi, Vũ Thị Thu, Vũ Thanh Bình
Các vị có mặt đã thăm thực địa và đi tới thống nhất xây nhà thờ Họ Vũ tại thửa đất hương hoả Đời thứ 8 tại trước của nhà ông trưởng Vũ Doãn Tịch và Nhà Cháu Giáp văn Nên, (Con Vũ Thị Duyên), nền cao hơn nhà ông trưởng tộc một bản gạch nằm, chiều dài từ mép  nhà Anh ông trưởng tộc tới ngõ phía đông chiều rộng không vượt quá cửa nhà cháu Nên. Nhà thờ 3 gian tường cao 3m, mái chẩy đổ bê tong lợp ngói mũi, trong có cột xà, câu đầu, kèo bê tong, của quy hướng nam, với 1 cửa lớn hai của nhỏ,hai hồi hai cử sổ,hiên rộng 1.5m trên đi hiên tây có cuốn thư
“ NHÀ  THỜ HỌ VŨ” “TÂN TẠO XUÂN MẬU TÝ 2008” và hai chữ HIẾU NGHĨA.
Anh em ông trưởng tộc Vũ Doãn Tịch (đời thứ 11 ) nhất trí cúng thửa đất này cho họ xây dựng từ đường và hứa làm giấy chuyển giao  qua chính quyền chứng thực.
Trong cuộc họp này mọi người nhất trí cử ban kiến thiết Bao Gồm các Cụ: Vũ Đức Toản, Vũ Doãn Tịch, Vũ Tiến Điện, Vũ Đức Dễ, lo liệu xây dựng nhà thờ cho tới ngày 15-8- mậu tý phải hoàn thành. Mọi thành viên trong họ phải có trách nhiệm nhắc nhở nhau góp và gửi tiền về cho ban kiến thiết chi tiêu kịp thời.
ở cuộc họp khác quy định về sắm đồ thờ cúng ai có tâm sắm sửa phải thông qua ông trưởng tộc thời ấy và ban đại diện trong họ mới được sắm kẻo lại biến nơi tôn nghiêm thờ tự của họ thành nơi chứa đồ thờ thừa.
Nhà thờ khởi công xây dựng 16 tháng riêng mậu tý do ông Vũ Đức Tuấn 35 tuổi bổ những nhát quốc Đầu tiên sau khi ông trưởng tộc làm lễ khởi công và trước sự vui mừng của những người có mặt. công việc tiến hành thuận lợi tới ngày 24-4 năm mậu tý cụ Vũ Đức Thiềm 72 tuổi bỏ nóc vào giờ dần trong ánh sang điện lung linh. Với sự nhiệt thành của mọi thành viên trong họ. Với sự tận tâm tận lực của ban kiến thiết, đặc biệt gia đình ông trưởng tộc Vũ Doãn Tịch đúng ngày 15-8 năm mậu tý tức 14-9-2008 ban thờ tổ được thiết lập trang trọng trước thời điểm quốc thái dân an, đất nước hoà bình, nhà nhà vui hạnh phúc.
Nhà thờ họ Vũ được hoàn thành với hình khối bề thế, cao ráo khang trang, sang sủa đẹp đẽ, vừa ý mọi thành viên đã về thăm nhà thờ.kỵ nhật thuỷ tổ bà ngày 3-9 con cháu trong họ đã làm lể dâng hương cáo tổ.(vắng chi Băc Ninh)
Là hậu duệ của tổ tiên, chúng ta có quyền tin tưởng rằng tổ tiên rất hài lòng về việc làm này.và luôn luôn phù hộ cho hậu duệ muôn đời mai sau mạnh khoẻ, thân ái đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, học hành tấn tới, làm ăn giàu có phát triển cùng đất nước, cùng nhân loại để xứng đáng với câu đối ghi trong tộc phả
VŨ TỘC ĐẠI TÔN THUỲ HÂU THẾ
TRUYỀN GIA CAO ĐỨC VỌNG TIỀN NHÂN
Thưa quý vi thật thiêng liêng thay!, thật kỳ diệu thay!, thật hạnh phúc thay! Kể từ ngày nhà thờ được xây dựng, ban thờ tổ tiên được thiết lập thì hậu duệ của tổ tiên đã tìm về vấn tổ tầm tong, Đó là chi cụ Vũ Văn Tầm ở Hải Dương về ngày thanh minh 2009, chi cụ Vũ Văn Tín ở Hỷ tước Hưng Yên về nhận họ nhày 27-7-canh dần.chúng ta hy vọng rằng hậu duệ của cụ tổ họ Vũ ta tiếp tục về nhiều nhiều nữa. hậu duệ họ vũ chúng ta có thể coi nơi thờ cụ thuỷ tổ họ đây là  báu vật phải bảo vệ gữ gìn cẩn thận.
Hiện nay còn một số công việc như trang trí trong ngoài sân , công dậu, vườn hoa điện sang, hậu duệ trong họ ai có điều kiện hãy cố gắng đem tâm xây dựng tiếp để hoàn thiện và tạo cho phong cảnh nhà thờ được đẹp đẽ them. Tất cả thành viên có tiền, của và công sức góp phần xây dựng nhà thờ họ ta đều được ghi trong sổ vàng.

Người Khắc Chữ                                                                                  Tống xuyên 27-7 năm Canh Dần

Nghệ nhân Trần văn Đán                                                      Người viết Nhà Giáo Vũ Đức Toản Đời thứ 10


Khảo cứu niên đại các tiên tổ

Vì tôi chưa biết có tiền đề nào hay luận điểm nào ghi trong gia phả học, có thể vận dụng chung cho tất cả các dòng họ, nên ở đây tôi chỉ xin phép gói gọn trình bày những kinh nghiệm chúng tôi đã vận dụng trong dòng họ chúng tôi., thấy các phả khác cũng có những nét tương tự, nghĩa là: gia phả qua nhiều đời tiên tổ không ghi được năm sinh năm mất nên qua đó khó tìm được những kinh nghiệm dưới đây mong giúp ích phần nào công trình khảo cứu biên soạn gia phả của các dòng họ.
Khi một vị tiên tổ không có năm sinh xác định, ta có thể dựa vào danh nhân lịch sử tức là các vị có học vị, có chức vị lớn trong quốc sử, để so ngang sánh dọc tìm mối quan hệ thân thuộc, qua đó tìm phạm vi năm sinh ước lượng.
Trường hợp gia phả có ghi năm sinh năm mât theo lịch can chi. Đó là điềm may mắn để tìm năm xác định theo dương lịch. Nếu có ghi dưới triều vua nào thì đơn giản dễ dàng đổi ngay sang dương lịch, ngặt vì lịch can chi theo chu kỳ 60 năm quay lại một vòng.
Họ chúng tôi từ đời Thủy tổ là Cụ Vũ Tam Lang Hiệu Vũ Phúc Quảng , đến đời 13, gia phả không ghi được năm sinh năm mất của vị nào. May mắn có một đị đời 7 chi thứ 2 là có ghi sinh năm Bính Tý, nhưng Bính Tý nào 1816, 1876 hay 1963vvv.xét theo quan hệ cha con, ông cháu cách nhau bao nhiêu năm thì hợp lý, cuối cùng lần theo năm can chi của 1 số đời sau mà xác định được Cụ Vũ Văn Đàn sinh năm 1816.
Từ vị tiên tổ có năm sinh xác định, mà dựa theo số năm bình quân từng đời, tiín lần lên ước lượng phạm vi năm sinh các tiên tổ đời cao cho đến đời Thủy tổ - Tính xuống cũng vậy.
Vậy một đời bình quân là bao nhiêu năm?
Nên nhớ cách tính đời con người khác với đời con tằm. Con tằm từ trong kén chui ra hóa thành con ngài, sau khi đẻ trứng thì ngài chết, trứng nở rồi tằm lớn lên qua từng giai đoạn đến lúc tằm chín, nhả tơ, làm kén sau đó hóa thành ngài chui ra khỏi khén coi như một vòng đời.
Con người có khi tứ, ngũ đại đồng đường (bốn, năm đời cùng sống chung, cùng ở chung một nhà) sinh con trai đầu lòng tính là một đời, có cháu đích tôn tính là hai đời, có chắt trưởng nam tính là 3 đời. Thông thường, 20 tuổi có con, 40 tuổi có cháu, 60 tuổi có chắt, nhưng đầu lòng có thể là con gái, hơn nữa phải trừ đi những trường hợp hữu sinh vô dưỡng, nên cách tính bình quân là 25 – 28 năm một đời. Thời xưa có nhiều vùng có tập tục tảo hôn, nữ thập tam, nam thập lục, có thể sinh con sớm hơn chút ít, song tuổi hôn nhân và tuổi phát dục theo sinh lý khác nhau, phụ nữ ít có trường hợp sinh con dưới 18 tuổi. Vì vậy có thể dùng 25-28 tuổi làm tuổi bình quân để ước luợng phạm vi năm sinh.
Phương pháp ước lượng phạm vi năm sinh trung bình từng đời nhân với số đời được xác định là phương pháp chủ yếu, nhưng khoảng cách đời càng nhiều thì phạm vi ước lượng càng rộng, nên phải kết hợp dùng các biện pháp tìm tư liệu ngoại diên khác để điều chỉnh cho hợp lý

Theo gia phả mà cụ Vũ Doãn Lập, Vũ Doãn Tập Ghi lại thì dòng Họ Vũ đã có 13 đời thế hệ sau này tính đến năm 2014 thì dòng họ Vũ đã về định cư tại Thôn Tống Xuyên  tới nay đã 330 đến 350 năm.
Theo lôgíc ta có thể suy luận
Trường Hợp thứ nhất như sau: Trong gia phả dòng họ Vũ  có ghi “Cụ Vũ Văn Đàn “tức Vũ Văn Huyền Sinh năm Bính tý Mất  Năm Nhâm Thân. Thọ 54 tuổi” Vây Cụ Đàn Sinh
Năm 1816 năm Gia Long 17  Cụ Đàn là đời thứ 7 con cháu trực hệ của cụ Vũ thế Đức Đời Thứ 2
Theo nguyên tắc tính thế hệ thì: 5 thế hệ X 25 năm/1 đời người=125 năm. Cụ Đức Sinh Năm 1691
Trường Hợp Thứ Hai: Cụ Vũ Doãn Cát Sinh Năm năm Tự Đức 31 “năm 1878” Đời Thứ 7
Theo nguyên tắc tính thế hệ thì: 5 thế hệ X 25 năm/1 đời người=125 năm. Cụ Đức Sinh Năm 1753
Nhưng cụ Cát không phải là cháu trưc hệ là “đời thứ 5 là nghành thứ, bản than cụ Cát cũng là ngành thứ của Đời thứ năm nên số năm chênh lệch cũng là hợp lý vì trong gia đình có thể cháu Hơn tuổi chú.
 Đời Thứ Hai                              Ngành Trưởng  Vũ Thế Bồi Sinh Năm 1688                                       
                                                    Ngành Thứ Thứ Vũ Thế Đức Sinh năm 1691
Nếu tính bình quân 20 năm, 25 năm; 30 năm một đời thì kết quả như sau:
Nếu Tính ;                            20 năm/đời               25 năm/đời                     30 năm/đời
Vũ Văn Đàn                             1816                          1816                                  1816
Ngược Lên 5 khoảng đời         -100                            125                                    -150
Cụ Vũ Thế Đức                        1716                          1691                                  1666
Lấy cụ Đàn làm mốc trung bình 25 một đời  suy ra cụ Vũ thế Đức Sinh Năm 1691  Suy ra Cụ Vũ Tam Lang Hiệu Vũ Phúc Quảng Sinh năm 1664  Năm Chính Hoà Thứ 12 Như vậy ta nói dòng họ Vũ  về định cư ở Tống Xuyên tính đến nay (năm 2014) đã từ 320 đến 350 năm trước (tức thế kỷ thứ XVI) đời nhà hậu lê là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với các dữ liệu lịch sử và gia phả dòng họ để lại.

Khôi phục việc họ là một trào lưu lớn của dân tộc ta trong mấy thập kỷ gần đây, tương lai vẫn còn là trọng tâm của công việc duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc. Chăm lo việc họ thì công tác quan trọng hàng đầu là vấn đề gia phả. Công việc biên dịch khảo cứu, tục biên và phổ biến gia phả là một công việc lâu dài và phổ cập, họ nào cũng quan tâm. Trong đó đề tài chúng tôi nêu trên đây: “Khảo cứu niên đại các vị tiên tổ” là khâu quan trọng và cấp bách nhất, đó là chùm chìa khóa để đi tìm về cội nguồn lịch sử củâ từng dòng họ, đi tìm những gương sáng, những danh nhân lịch sử đang tiềm ẩn trong kho tàng lịch sử văn hóa dân tộc. Chịu khó đi sâu vào khảo cứu các gia phả các dòng họ, chúng ta còn khai thác được nhiều điều lý thú.

VGT.

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

Hoc Thuyết Buông Xả (P6)

Vì mỗi con người là một ”tiểu vũ trụ” với “cái tôi” to đùng nên thu nhập tri thức cũng có nhiều điểm khác biệt, do vậy xảy ra tranh luận. Dù việc tranh luận không đi đến xung đột tay chân nhưng tác hại của nó vẫn giông như đã “đấu đá” nhau, thậm chí còn lâu dài hơn cả khi chúng ta nổi nóng đấu đá bằng tay chân. Các hiền sĩ từ Đông sang Tây đều đồng ý một điều: đó là tranh luận không hề đi đến thống nhất bao giờ và cũng không bên nào có thể thuyết phục được bên kia bởi vì trước khi xảy ra tranh luận thì hai bên đã hình thành ý tưởng chắc chắn rồi. Thoạt đầu họ có thể đưa ra quan điểm của mình, hy vọng đối phương sẽ chấp nhận. Thế nhưng càng tranh luận thì bản ngã cố hữu càng có dịp phát triển và người ta bắt đầu gân cổ trợn mắt cố hết sức để tìm phần thắng cho mình. Khi ấy tâm tư hầu như đã dồn hết vào việc làm sao “phải thắng”, không còn sáng suô't nhận ra những sai lầm mà đôi phương nêu ra, dần dần đi đến chỗ kịch liệt, không ai chịu ai nữa.
Tranh luận hay tranh cãi bằng lời nói, bằng lý lẽ xác đáng đến mấy cuối cùng đều đi đến chỗ bế tắc mà thôi. Không tranh cãi, để tự người ta suy xét và nhận ra sai lầm chính là “quẳng gánh lo đi” ngay từ lúc “gánh lo” chưa tới. Đó cũng là sự Buông Xả của Phật giáo trong một chừng mực nào đó
Tránh xa sự nóng giận: Không phải riêng Phật giáo mới chủ trương đừng bao giờ nóng giận mà hầu hết các hiền sĩ trên thế giới này đều đưa ra những lời khuyên tha thiết với việc con người rất hay nóng giận. Theo họ thì nóng giận chính là nguồn gốc gẫy ra chia rẽ và hận thù nhiều nhất của con người. Đối với Tây phương, “nóng giận” là trạng thái tâm lý bình thường cũng như Yêu, Ghét, Buồn, Vui nên không thể diệt trừ hoàn toàn mà chỉ có thể dùng phương pháp kềm chế bớt phần nào hay phần đó, giúp cho con người được bình yên trong tâm hồn.
Thế nhưng “nóng giận” không chỉ là tâm lý đơn thuần mà nó chính là sự kết hợp của nhiều yếu tô", trong đó phần lớn bắt nguồn từ bản ngã “chấp trước” và kéo theo nhiều hệ lụy bi thảm. Đối với Phật giáo, “nóng giận” chính là độc dược nguy hiểm vào loại thứ hai sau lòng tham (Tham, Sân, Si), một đánh giá đúng đắn hơn những gì Tây phương đề ra.
Phương pháp của Tây phương kềm chế nóng giận rất đơn giản, chẳng hạn khi có cảm giác mình đang “nổi giận” thì nên hít một hơi thở sâu, hoặc là bỏ đi chỗ khác, sau khi cơn giận nén xuống mới bắt đầu suy xét sự việc và có cách ứng xử phù hợp. Thực tế cho thấy người ta đều biết những phương pháp này nhưng đồng thời chẳng bao giờ kềm hãm được nóng giận. Nóng giận giông như “ngọn núi lửa” bùng phát dữ dội, không kịp kềm chế hoặc không thể dập tắt chỉ bằng một hai phương pháp đơn thuần. Do vậy dù Tây phương đưa ra khá nhiều lời khuyên, tính cách nóng giận ở con người vẫn không bị triệt tiêu mà hình như càng “chấp mê” bao nhiêu thì người ta càng dễ nóng giận bấy nhiêu.
Tóm lại dù là phương pháp nào cũng chỉ nhất thời kềm chế “chấp trước” một cách tạm bợ mà thôi. Mãi đến khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện nơi Ấn Độ mới có một học thuyết mới là Buông Xả, giúp cho người ta triệt tiêu hoàn toàn “chấp trước”. Giáo lý của Đức Phật cũng đồng thời tiêu diệt hoàn toàn trạng thái bản ngã của con người như Hỉ, Nộ, Ai, o bằng lòng Từ Bi Vô Lượng, trong đó bao gồm cả một “phương pháp” tuyệt diệu, đó là Buông Xả để không còn bất cứ Chấp Trước nào nữa
Buông Xả Đối trị với chấp trước
An lạc trong cuộc sống, bươn chải vì sinh kế nhưng mong muôn tâm hồn được thong dong nhẹ nhàng chính là niềm mơ ước muôn đời của con người. Thực tế cho thấy hầu như tất cả, từ chính khách cho đến các nhà lãnh đạo tông giáo đều nhấm vào mục đích giúp cho loài người có Được một cuộc sông yên bình và hạnh phúc. Tiếc rằng đa số các chính khách đã hướng quá nhiều về danh vọng và quyền lực, lấy hai chữ “hạnh phúc cho nhân loại” làm bình phong để hoạt động, thực chất họ không giúp gì cho loài người được yên bình mà có khi còn dựa vào mục tiêu giả trá ấy để gây ra những cuộc chiến tranh tương tàn
đẫm máu.
Còn người bình thường cũng không khác mấy, ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường hay mới bước ra đời đều mang nặng trong tâm ước mơ phải đạt được càng nhiều thành công vật chất lẫn tinh thần càng tốt. Cuộc sông do đó rẫy đầy đau khổ và phiền não. Ngay từ khi loài người mới thành lập xã hội, tính cách “chấp trước” càng gia tăng khiến cho các hiền triết từ Đông sang Tây ra sức dề ra các phương pháp giúp cho con người kềm hãm bớt “chấp trước”, tạo dựng một cuộc sông thanh thản an lạc trong tâm hồn. Tất cả những phương pháp ấy chỉ có tác dụng phần nào, mãi cho đến khi Đức Phật thị hiện và truyền bá giáo lý thì người ta mới nhận ra chỉ có hạnh “Buông Xả” mới có thể giúp con người thoát khỏi chấp trước hoàn toàn.
Tuy nhiên không phải ai cũng có thể thực hành “Buông Xả” bởi trước nhất phải tu tập một tâm Từ Bi
làm nòng cốt, từ đó hạnh Hỉ Xả mới phát triển và
buông bỏ được chấp trước. Như vậy Buông Xả là gì?
Thực hành như thế nào?
Rất nhiều sách vở nhà Phật đã đề cập tới nhưng luôn luôn vẫn là niềm mong muôn của các Phật tử thành tâm học hỏi và tu tập. Thật tế, Buông Xả chính là Buông Bỏ, tức là Buông Bỏ mọi phiền não từ bên ngoài và cả bên trong. Phiền não và chấp trước giống như lớp sương mù dơ bẩn bao bọc lấy bạn, làm cho tâm tư bạn phiền não không nguôi và nhìn sự việc với đôi mắt mờ ám, dẫn tới hành động sai lạc, dù thật tâm bạn không muốn thế. Chỉ khi nào bạn Buông Bỏ được tấm màn u ám đó bằng tính cách Từ Bi thì mới hiểu
được hạnh phúc là gì và từ đó bạn sẽ có một cuộc đời
an lạ
Thật tế, an lạc và đau khổ chính là hai mặt của một vấn đề. Không có khổ đau thì sẽ không có an lạc, vì vậy hãy nhìn cuộc đời bằng đôi mắt sáng suốt, nhận ra những khổ đau thì tất nhiên sẽ dễ dàng hiểu được sự an lạc phải như thế nào. Trước kia có một hiền triết đã thử xem, cứ mỗi lần cảm thấy tức giận và đau khổ thì liền bỏ một hạt dậu đen vào cái bình, mỗi lần cảm thấy hạnh phúc thì bỏ một hạt đậu xanh vào một cái bình khác. Đầu tiên số đậu đen nhiều hơn sô" đậu xanh, hiền triết nhận ra rằng mình đã còn chấp nhất quá nhiều sự việc trên cuộc đời, dẫn đến những đau khổ. Ông quyết tâm buông bỏ những chấp trước ấy, dần dần sô" đậu xanh tăng lên
và sau cùng số đậu đen thì vẫn như cũ. Ông đã thực hiện
được cuộc sông an lạc cho đời mình. Đau khổ và an lạc
luôn luôn tỷ lệ nghịch với nhau.
Một triết gia thiên về tông giáo là Krishnamurti nói rằng: “Mỗi ngày bạn hãy tự tìm một nơi yên tĩnh, chỉ cần mười phút thôi, tạm quên đi tất cả những lo âu buồn khổ của cuộc sông bằng cách buông bỏ tất cả, từ tinh thần tới vật chất. Bạn hãy lắng nghe hơi thở của mình và khách quan nhìn nhận sự việc trong ngày đó mà không suy nghĩ, không xét đoán bằng cách hòa mình vào với thiên nhiên, hãy nghĩ đến những điều tốt... hãy mỉm cười với bất cứ sự việc gì xảy ra đôi với mình, cho dù sự việc ấy có tổn hại đến mấy đi nữa. Kiên trì cố gắng giữ vững những giây phút yên tĩnh như vậy, một thời gian sau bạn sẽ nhìn” được chính mình và hoàn toàn thanh thản trong nội tâm”.
Thiên nhiên ban tặng cho loài người một món quà cực kỳ quý giá là “nụ cười”, không loài động yật nào có được kể cả loài “vượn người” rất gần với chúng ta. Tại sao chúng ta không sử dụng “món quà đặc biệt” này để tạo cho cuộc sông được tươi vui và chính chúng ta cũng được thanh thản bởi vì dù gặp bất cứ sự việc gì, nụ cười cũng sẽ đánh tan hết những giận hờn tức tối. Trong cuộc sông thường nhật, nếu khi gặp vài ba va chạm nhỏ như quẹt xe, dẫm nhầm chân người khác, v.v... chỉ cần một nụ cười
và thêm vào lời xin lỗi là tất cả đều xong. Tiếc rằng cuộc
sông càng ngày càng có nhiều băn khoăn lo toan, tâm tư của eon người mỗi ngày thêm chia rẽ về các học thuyết kinh tế, xã hội, chính trị rồi đến cả sự chia rẽ về tín ngưỡng nên hình như con người đã quên mất “nụ cười”, nét mặt bao giờ cũng hằn sâu vẻ đăm chiêu khó chịu làm mất đi sự tươi tắn trong ứng xử.
Có thể thấy hình tượng Đức Phật hầu hết đều được thể hiện với một nụ cười nhẹ nhàng, thâm trầm mà nhân ái khiến người ta vừa nhìn vào đã thấy trong lòng ít nhiều cởi mở thanh thoát. Đó là không kể Phật Di Lặc trong tương lai với nụ cười “rộng mở” đến tận mang tai. Phải chăng đó là “thông điệp” của các ngài, cho biết chỉ có nụ cười mới cứu độ cho thế gian thoát khỏi cảnh khổ đau?Bạn chưa phải là người xuất gia, tức là chưa thể Buông Bỏ được cuộc sống thế gian, còn phải hứng chịu
biết bao nhiêu áp lực mưu sinh và những ma chướng từ
đâu đưa đến. Chắc chắn bạn không thể kềm hãm được sự chấp trước và nóng giận mỗi khi tâm tư chưa được bình tĩnh. Dù bạn đã tu tập ít nhiều nhưng những ma chướng trong cuộc đời thiên biến vạn hóa, không thể nào nhìn thấy trước được do nguyên nhân gì đưa đến và nhiều lúc rất bất ngờ khiến bạn không sao còn đủ suy nghĩ để kềm chế tâm tư. Thế là xung đột xảy ra và dù thắng hay thua, khi việc đã xong, về tới nhà bình tâm xem xét lại bạn mới thấy hối hận. Có thể sự việc ấy làm người khác bị
tổn thương hoặc chính bạn bị tổn thương bởi “cái tôi” của
mình luôn luôn đòi hỏi phần thắng.
Một lần ra đường, bạn đi rất đúng luật giao thông, bất chợt một người nào đó rú ga vượt qua mặt, suýt nữa đã làm bạn ngã. Hắn đã không có lời xin lỗi mà còn ngoái đầu lại sừng sộ mắng một câu: “Không biết đi xe hay sao?”. Tất nhiên trong giây phút đầu tiên bạn sẽ phát khởi nóng giận nhưng rất mau kềm hãm được bởi biết rằng hắn chắc chắn là kẻ côn đồ hung hăng không ra gì, tranh cãi hay gây gổ với hắn chỉ thua thiệt mà thôi. Bạn lẳng lặng bỏ qua nhưng trong lòng hơi bực tức. Vậy là
bạn đã là người biết kềm chế sự nóng giận và hành xử
đúng đắn.
Thế nhưng, nếu ngay lập tức bạn nghĩ đến sự ngu
muội của hắn, trong lòng cảm thấy thương hại cho kẻ vô
minh mà còn hung hăng, tự nhiên bạn sẽ không còn chấp nhất nữa và cũng không ghi chút nào trong tâm khảm. Cao hơn nữa, bạn nhận ra ngay hắn chính là kẻ quá đau khổ với cuộc sống, tâm trí điên cuồng vì những thất bại nên mới phóng xe bạt mạng như vậy, chắc chắn bạn sẽ “không nghe” được câu nói mang tính cách gây hấn của hắn mà sẽ nở một nụ cười dáp trả. Nụ cười ấy có thể là
dấu hiệu thân thiện, sẵn sàng bỏ qua sự gây hấn, tha thứ
cho hắn mà cũng có thể là nụ cười cảm thương cho cuộc
sông vô minh của hắn.
Nhận được nụ cười của đối phương, chắc chắn hắn sẽ ngơ ngác rất lâu, nếu là người thiếu hiểu biết thì sẽ không hiểu nổi tại sao người ta lại cười với mình; nếu là người có chút hiểu biết thì trong tâm hồn hắn sẽ khởi phát ít nhiều hối hận Ỷà từ đó trở đi có lẽ hắn sẽ không còn những thái độ như thế nữa.
Đó mới chính là sự “Buông Xả” hoàn toàn, không những giúp cho tâm mình không bợn nhơ mà còn có thể khiến cho người ta phải suy nghĩ lại. Chúng ta cần phải Buông Xả, cần phải biết tha thứ lỗi lầm của người khác thì tâm mới có “chỗ trống” cho niềm hạnh phúc an lạc trú ngụ. Tha thứ không có nghĩa là xóa bỏ được sự việc đã xảy ra rồi, cũng có thể không mang tính cách sửa đổi của người khác nhưng ít nhất cũng làm cho bạn tthoát khỏi sự đau khổ, giận tức, làm tiền đề cho tâm tiến dần đến Buông Xả hoàn toàn với lòng Từ Bi chân thật. Buông Xả sẽ đối trị với Chấp Trước, tiêu diệt Sân Hận nên Phật giáo rất chú trọng khuyên bảo người ta cố gắng tu tập được đức hạnh này. Tuy nhiên như đã trình bày, con người vốn có “chấp ngã” rất mãnh liệt, vì thế nhất thời có thể “quẳng gánh lo đi” nhưng Buông Xả hoàn toàn phải là không còn ghi dấu chút nào trong tâm thì lại là vấn đề khá khó khăn, cần đến sự kiên nhẫn lâu
dài. Đó là một “nghệ thuật” mà khi bạn đạt tới sẽ thấy
rõ Niết Bàn chính là nơi cuộc sông này chứ không phải nơi chôn hoang tưởng nào khác.
Buông Xả không phải là tiêu trừ hết những vật chất thế gian, cũng không phải là từ chối hình tướng, vẫn chấp nhận những gì đang hiện diện nhưng không hề ghi nhớ vào tâm trí. Khi nào bạn nhìn một người không thấy tâm xáo động vì vẻ xinh đẹp của người ấy, cũng không biết là xấu, không nghĩ đến hèn hạ hay sang trọng: tai nghe một bản nhạc, cảm nhận được từng nốt nhạc, nhưng cuôì cùng chúng ta không ghi vào tâm là bản nhạc ấy hay hoặc dở, không có ý kiến chê bai hay khen ngợi, cũng không vì vậy mà buồn rầu hay vui sướng, đó là bước đầucủa Buông Xả rồi vậy.
Không chất chứa bất cứ sự việc hay tư tưởng nào vào tâm chính là tiến trình tu tập của hạnh Buông Xả giống như bài thơ của Thiền sư Hương Hải (1628-1715) đã cảm tác tính cách biết Buông Xả một cách nhẹ nhàng như sau: Nam đài tĩnh tọa nhất lô hương.
Chung nhật ngưng nhiên niệm lự vong.
Bất thị tức tâm trừ vọng tưởng,
Đô duyên vô sự khả tư lương.
Dịch xuôi:
(Đài Nam tĩnh tọa cạnh một lư hương.
Suốt ngày tâm vong bặt mọi Ịo nghĩ.
Không do chặn tâm để ngăn trừ vọng tưởng,
Chỉ do thấy không có vấn đề gì đáng phải quan tâm)
Trạng thái bình an, vắng lặng, suốt ngày không một
vọng niệm, không phải do hành giả dụng công ngăn chặn tâm lăng xăng, cố sức tiêu trừ vọng tưởng, mà do hành giả nhận thấy toàn bộ những vọng niệm này là hoàn toàn hư huyễn, không giá trị, tuyệt nhiên không cần quan tâm tới. Buông Xả cũng giông như vậy, càng cố sức ngăn chặn nhiều khi càng làm cho tâm chúng ta thêm rối loạn, chỉ cần nhận thức được bất cứ việc gì trên thế gian này đều không đáng phải quan tâm tới là những vọng tưởng, chấp trước dần dần sẽ bị tiêu diệt.

ST........