Vì tôi chưa biết có tiền đề nào hay luận điểm nào
ghi trong gia phả học, có thể vận dụng chung cho tất cả các dòng họ, nên ở đây
tôi chỉ xin phép gói gọn trình bày những kinh nghiệm chúng tôi đã vận dụng
trong dòng họ chúng tôi., thấy các phả khác cũng có những nét tương tự, nghĩa
là: gia phả qua nhiều đời tiên tổ không ghi được năm sinh năm mất nên qua đó
khó tìm được những kinh nghiệm dưới đây mong giúp ích phần nào công trình khảo
cứu biên soạn gia phả của các dòng họ.
Khi một vị tiên tổ không có năm sinh xác định,
ta có thể dựa vào danh nhân lịch sử tức là các vị có học vị, có
chức vị lớn trong quốc sử, để so ngang sánh dọc tìm mối quan hệ thân
thuộc, qua đó tìm phạm vi năm sinh ước lượng.
Trường hợp gia phả có ghi năm sinh năm mât theo
lịch can chi. Đó là điềm may mắn để tìm năm xác định theo dương lịch. Nếu
có ghi dưới triều vua nào thì đơn giản dễ dàng đổi ngay sang dương lịch, ngặt
vì lịch can chi theo chu kỳ 60 năm quay lại một vòng.
Họ Vũ chúng tôi từ đời Thủy tổ là Cụ Vũ Tam Lang Hiệu Vũ Phúc Quảng , đến đời 13, gia phả không
ghi được năm sinh năm mất của vị nào. May mắn có một đị đời 7 chi thứ 2 là có ghi sinh năm Bính
Tý, nhưng Bính Tý nào 1816, 1876 hay 1963vvv.xét theo quan hệ cha con, ông
cháu cách nhau bao nhiêu năm thì hợp lý, cuối cùng lần theo năm can chi của 1
số đời sau mà xác định được Cụ Vũ Văn
Đàn sinh năm 1816.
Từ vị tiên tổ có năm sinh xác định, mà dựa theo số
năm bình quân từng đời, tiín lần lên ước lượng phạm vi năm sinh các tiên tổ đời
cao cho đến đời Thủy tổ - Tính xuống cũng vậy.
Vậy một đời bình quân là bao nhiêu năm?
Nên nhớ cách tính đời con người khác với đời con tằm. Con
tằm từ trong kén chui ra hóa thành con ngài, sau khi đẻ trứng thì ngài chết,
trứng nở rồi tằm lớn lên qua từng giai đoạn đến lúc tằm chín, nhả tơ, làm kén
sau đó hóa thành ngài chui ra khỏi khén coi như một vòng đời.
Con người có khi tứ, ngũ đại đồng đường (bốn, năm đời
cùng sống chung, cùng ở chung một nhà) sinh con trai đầu lòng tính là một đời,
có cháu đích tôn tính là hai đời, có chắt trưởng nam tính là 3 đời. Thông
thường, 20 tuổi có con, 40 tuổi có cháu, 60 tuổi có chắt, nhưng đầu lòng có thể
là con gái, hơn nữa phải trừ đi những trường hợp hữu sinh vô dưỡng, nên cách
tính bình quân là 25 – 28 năm một đời. Thời xưa có nhiều vùng có tập tục tảo
hôn, nữ thập tam, nam thập lục, có thể sinh con sớm hơn chút ít, song tuổi hôn
nhân và tuổi phát dục theo sinh lý khác nhau, phụ nữ ít có trường hợp sinh con
dưới 18 tuổi. Vì vậy có thể dùng 25-28 tuổi làm tuổi bình quân để ước luợng
phạm vi năm sinh.
Phương pháp ước lượng phạm vi năm sinh trung bình từng
đời nhân với số đời được xác định là phương pháp chủ yếu, nhưng khoảng cách đời
càng nhiều thì phạm vi ước lượng càng rộng, nên phải kết hợp dùng các biện pháp
tìm tư liệu ngoại diên khác để điều chỉnh cho hợp lý
Theo gia
phả mà cụ Vũ Doãn Lập, Vũ Doãn Tập Ghi lại thì dòng Họ Vũ đã có 13 đời thế
hệ sau này tính đến năm 2014 thì dòng
họ Vũ đã về định cư tại Thôn Tống Xuyên tới nay đã 330 đến 350 năm.
Theo lôgíc
ta có thể suy luận
Trường Hợp thứ nhất như sau: Trong gia phả dòng họ Vũ
có ghi “Cụ Vũ Văn Đàn “tức Vũ Văn Huyền
Sinh năm Bính tý Mất Năm Nhâm Thân. Thọ
54 tuổi” Vây Cụ Đàn Sinh
Năm 1816 năm Gia Long 17 Cụ Đàn là đời thứ 7 con cháu trực hệ của cụ Vũ
thế Đức Đời Thứ 2
Theo
nguyên tắc tính thế hệ thì: 5 thế hệ X 25 năm/1 đời người=125 năm. Cụ Đức Sinh
Năm 1691
Trường Hợp Thứ Hai: Cụ Vũ Doãn Cát Sinh Năm năm Tự
Đức 31 “năm 1878” Đời Thứ 7
Theo
nguyên tắc tính thế hệ thì: 5 thế hệ X 25 năm/1 đời người=125 năm. Cụ Đức Sinh
Năm 1753
Nhưng cụ
Cát không phải là cháu trưc hệ là “đời thứ 5 là nghành thứ, bản than cụ Cát
cũng là ngành thứ của Đời thứ năm nên số năm chênh lệch cũng là hợp lý vì trong
gia đình có thể cháu Hơn tuổi chú.
Ngành Thứ Thứ Vũ Thế Đức Sinh năm 1691
Nếu tính bình quân 20 năm, 25 năm; 30 năm một đời thì kết quả như sau:
Nếu Tính ; 20 năm/đời 25 năm/đời 30 năm/đời
Vũ Văn Đàn 1816 1816 1816
Ngược Lên 5 khoảng đời -100 125 -150
Cụ Vũ Thế Đức 1716 1691 1666
Lấy cụ Đàn làm mốc trung bình 25 một đời suy ra cụ Vũ thế Đức Sinh Năm 1691 Suy ra Cụ Vũ Tam Lang Hiệu Vũ Phúc Quảng Sinh năm 1664 Năm Chính Hoà Thứ 12 Như vậy ta nói dòng họ
Vũ về định cư ở Tống Xuyên tính đến nay
(năm 2014) đã từ 320 đến 350 năm trước (tức thế kỷ thứ XVI) đời nhà hậu lê là
hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với các dữ liệu lịch sử và gia phả dòng
họ để lại.
Khôi phục việc họ là một trào lưu lớn của dân tộc ta trong mấy thập kỷ gần
đây, tương lai vẫn còn là trọng tâm của công việc duy trì phát triển nền văn hóa
dân tộc. Chăm lo việc họ thì công tác quan trọng hàng đầu là vấn đề gia phả.
Công việc biên dịch khảo cứu, tục biên và phổ biến gia phả là một công việc lâu
dài và phổ cập, họ nào cũng quan tâm. Trong đó đề tài chúng tôi nêu trên đây:
“Khảo cứu niên đại các vị tiên tổ” là khâu quan trọng và cấp bách nhất, đó là
chùm chìa khóa để đi tìm về cội nguồn lịch sử củâ từng dòng họ, đi tìm những
gương sáng, những danh nhân lịch sử đang tiềm ẩn trong kho tàng lịch sử văn hóa
dân tộc. Chịu khó đi sâu vào khảo cứu các gia phả các dòng họ, chúng ta còn
khai thác được nhiều điều lý thú.
VGT.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét