Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Khảo cứu niên đại các tiên tổ

Vì tôi chưa biết có tiền đề nào hay luận điểm nào ghi trong gia phả học, có thể vận dụng chung cho tất cả các dòng họ, nên ở đây tôi chỉ xin phép gói gọn trình bày những kinh nghiệm chúng tôi đã vận dụng trong dòng họ chúng tôi., thấy các phả khác cũng có những nét tương tự, nghĩa là: gia phả qua nhiều đời tiên tổ không ghi được năm sinh năm mất nên qua đó khó tìm được những kinh nghiệm dưới đây mong giúp ích phần nào công trình khảo cứu biên soạn gia phả của các dòng họ.
Khi một vị tiên tổ không có năm sinh xác định, ta có thể dựa vào danh nhân lịch sử tức là các vị có học vị, có chức vị lớn trong quốc sử, để so ngang sánh dọc tìm mối quan hệ thân thuộc, qua đó tìm phạm vi năm sinh ước lượng.
Trường hợp gia phả có ghi năm sinh năm mât theo lịch can chi. Đó là điềm may mắn để tìm năm xác định theo dương lịch. Nếu có ghi dưới triều vua nào thì đơn giản dễ dàng đổi ngay sang dương lịch, ngặt vì lịch can chi theo chu kỳ 60 năm quay lại một vòng.
Họ chúng tôi từ đời Thủy tổ là Cụ Vũ Tam Lang Hiệu Vũ Phúc Quảng , đến đời 13, gia phả không ghi được năm sinh năm mất của vị nào. May mắn có một đị đời 7 chi thứ 2 là có ghi sinh năm Bính Tý, nhưng Bính Tý nào 1816, 1876 hay 1963vvv.xét theo quan hệ cha con, ông cháu cách nhau bao nhiêu năm thì hợp lý, cuối cùng lần theo năm can chi của 1 số đời sau mà xác định được Cụ Vũ Văn Đàn sinh năm 1816.
Từ vị tiên tổ có năm sinh xác định, mà dựa theo số năm bình quân từng đời, tiín lần lên ước lượng phạm vi năm sinh các tiên tổ đời cao cho đến đời Thủy tổ - Tính xuống cũng vậy.
Vậy một đời bình quân là bao nhiêu năm?
Nên nhớ cách tính đời con người khác với đời con tằm. Con tằm từ trong kén chui ra hóa thành con ngài, sau khi đẻ trứng thì ngài chết, trứng nở rồi tằm lớn lên qua từng giai đoạn đến lúc tằm chín, nhả tơ, làm kén sau đó hóa thành ngài chui ra khỏi khén coi như một vòng đời.
Con người có khi tứ, ngũ đại đồng đường (bốn, năm đời cùng sống chung, cùng ở chung một nhà) sinh con trai đầu lòng tính là một đời, có cháu đích tôn tính là hai đời, có chắt trưởng nam tính là 3 đời. Thông thường, 20 tuổi có con, 40 tuổi có cháu, 60 tuổi có chắt, nhưng đầu lòng có thể là con gái, hơn nữa phải trừ đi những trường hợp hữu sinh vô dưỡng, nên cách tính bình quân là 25 – 28 năm một đời. Thời xưa có nhiều vùng có tập tục tảo hôn, nữ thập tam, nam thập lục, có thể sinh con sớm hơn chút ít, song tuổi hôn nhân và tuổi phát dục theo sinh lý khác nhau, phụ nữ ít có trường hợp sinh con dưới 18 tuổi. Vì vậy có thể dùng 25-28 tuổi làm tuổi bình quân để ước luợng phạm vi năm sinh.
Phương pháp ước lượng phạm vi năm sinh trung bình từng đời nhân với số đời được xác định là phương pháp chủ yếu, nhưng khoảng cách đời càng nhiều thì phạm vi ước lượng càng rộng, nên phải kết hợp dùng các biện pháp tìm tư liệu ngoại diên khác để điều chỉnh cho hợp lý

Theo gia phả mà cụ Vũ Doãn Lập, Vũ Doãn Tập Ghi lại thì dòng Họ Vũ đã có 13 đời thế hệ sau này tính đến năm 2014 thì dòng họ Vũ đã về định cư tại Thôn Tống Xuyên  tới nay đã 330 đến 350 năm.
Theo lôgíc ta có thể suy luận
Trường Hợp thứ nhất như sau: Trong gia phả dòng họ Vũ  có ghi “Cụ Vũ Văn Đàn “tức Vũ Văn Huyền Sinh năm Bính tý Mất  Năm Nhâm Thân. Thọ 54 tuổi” Vây Cụ Đàn Sinh
Năm 1816 năm Gia Long 17  Cụ Đàn là đời thứ 7 con cháu trực hệ của cụ Vũ thế Đức Đời Thứ 2
Theo nguyên tắc tính thế hệ thì: 5 thế hệ X 25 năm/1 đời người=125 năm. Cụ Đức Sinh Năm 1691
Trường Hợp Thứ Hai: Cụ Vũ Doãn Cát Sinh Năm năm Tự Đức 31 “năm 1878” Đời Thứ 7
Theo nguyên tắc tính thế hệ thì: 5 thế hệ X 25 năm/1 đời người=125 năm. Cụ Đức Sinh Năm 1753
Nhưng cụ Cát không phải là cháu trưc hệ là “đời thứ 5 là nghành thứ, bản than cụ Cát cũng là ngành thứ của Đời thứ năm nên số năm chênh lệch cũng là hợp lý vì trong gia đình có thể cháu Hơn tuổi chú.
 Đời Thứ Hai                              Ngành Trưởng  Vũ Thế Bồi Sinh Năm 1688                                       
                                                    Ngành Thứ Thứ Vũ Thế Đức Sinh năm 1691
Nếu tính bình quân 20 năm, 25 năm; 30 năm một đời thì kết quả như sau:
Nếu Tính ;                            20 năm/đời               25 năm/đời                     30 năm/đời
Vũ Văn Đàn                             1816                          1816                                  1816
Ngược Lên 5 khoảng đời         -100                            125                                    -150
Cụ Vũ Thế Đức                        1716                          1691                                  1666
Lấy cụ Đàn làm mốc trung bình 25 một đời  suy ra cụ Vũ thế Đức Sinh Năm 1691  Suy ra Cụ Vũ Tam Lang Hiệu Vũ Phúc Quảng Sinh năm 1664  Năm Chính Hoà Thứ 12 Như vậy ta nói dòng họ Vũ  về định cư ở Tống Xuyên tính đến nay (năm 2014) đã từ 320 đến 350 năm trước (tức thế kỷ thứ XVI) đời nhà hậu lê là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với các dữ liệu lịch sử và gia phả dòng họ để lại.

Khôi phục việc họ là một trào lưu lớn của dân tộc ta trong mấy thập kỷ gần đây, tương lai vẫn còn là trọng tâm của công việc duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc. Chăm lo việc họ thì công tác quan trọng hàng đầu là vấn đề gia phả. Công việc biên dịch khảo cứu, tục biên và phổ biến gia phả là một công việc lâu dài và phổ cập, họ nào cũng quan tâm. Trong đó đề tài chúng tôi nêu trên đây: “Khảo cứu niên đại các vị tiên tổ” là khâu quan trọng và cấp bách nhất, đó là chùm chìa khóa để đi tìm về cội nguồn lịch sử củâ từng dòng họ, đi tìm những gương sáng, những danh nhân lịch sử đang tiềm ẩn trong kho tàng lịch sử văn hóa dân tộc. Chịu khó đi sâu vào khảo cứu các gia phả các dòng họ, chúng ta còn khai thác được nhiều điều lý thú.

VGT.

Không có nhận xét nào: