Chấp
nhất là tính cách câu nệ, thiên hẳn về một bề nào đó, không quyền biến hay thay
đổi, không nhận ra sự sai lầm của mình. Tâm Chấp
Kiến
Chấp nhất chính là sự kết hợp
giữa “cái tôi” với tính cách u mê không nhận biết được đúng sai rồi nhất quyết giữ chặt nó,
không thay đổi nữa. Thực tế trong cuộc sống chúng ta rất dễ nhận biết
người có tính chấp nhất, bởi
mỗi việc, mỗi lời nói không vừa ý, lập tức họ phản đối dữ dội ngay, không cần
suy xét hay lắng nghe sự biện giải của người khặc.
Chấp chướng là sự ngăn che của tính cách chấp nhất, chấp kiến.Theo Phật giáo thì có hai đầu mối.Một là cái chấp của bản ngã gây ra nhiều nỗi đau khổ, uất ức, bận tâm, lo lắng, v.v..., một là cái chấp do không nhận thức được mọi sự vật đều là hư ảo, do
nhân duyên mà hình thành nên cứ cho rằng tất cả đều là thật, khiến cho kiến thức bị sai lạc hoàn toàn. Tiếc rằng vật chất trên thế gian có sức mạnh vô cùng, làm cho người ta cắm đầu chạy theo mà không bao giờ nghĩ đến những vật chất ấy đều là giả tạo, là vô thường, chết rồi không mang theo được gì ngoài cái Nghiệp phải trả cho những hành vi đã tạo tác để chiếm đoạt vật chất ấy
mà thôi.
Chấp kiến là tính cách nắm chặt lấy những kiến thức sai lạc do mình đã thu nhận làm nền tảng xây dựng cuộc sống.
Rõ ràng chấp kiến đến một mức độ nào đó thì “cái tôi” xâm chiếm toàn bộ tâm trí của con người, trong đầu óc chỉ còn lại hai chữ “tự kiêu”, tự coi mình là người “duy nhất” trong thiên hạ vừa trong sạch vừa tỉnh táo. Tiếc rằng người ta càng học rộng, kiến văn nhiều thì càng kiêu ngạo. Thế nên họ không thể làm theo câu hát của ngư ông, là người sống theo bản ngã tự nhiên của trời đất, đó là: (Nước Tương giang trong trẻo thì ta giặt giải mũ; nước Tương giang đục thì ta rửa chân).
Có thể thấy không ít người có học thức đầy đủ vẫn sa vào hành động
sai lầm do quá chấp kiến, câu nệ vào sách vở. Thời
Xuân Thu chiến quốc, Mạnh Tử nổi tiếng là
hiền nhân chỉ kém Khổng Tử một bậc, thế mà khi tông
táng cho mẹ không hề tiếc tiền bạc, tổ chức nghi thức
quá rườm rà, cho đóng quan quách hết sức chắcchắn, quan bằng gỗ tốt dày đến nửa
thước, quách dày hơn thước. Một thước
Trung Hoa cổ chỉ khoảng 40cm thước Tây, nghĩa
là rất dày so với ngày nay nhưng có thể
giữ mãi thi thể của người mẹ ông ta yêu quý được chăng?
Hay cuối cùng thân thể cũng phải theo định luật
muôn đời, biến thành cát bụi? Thế nhưng Mạnh Tử cương
quyết tiến hành tống táng mẹ mình như vậy
khiến không ít đệ tử thắc mắc, hỏi thì Mạnh Tử thản
nhiên đáp: “Đó là lễ nghi của người xưa để lại, sao ta lại không theo?”. Một câu trả lời hoàn toàn chấp kiến, đến độ mê muội chẳng còn chút sáng suốt của hiền nhân nữa! Nghi lễ ấy quả nhiên do người xưa đặt ra nhưng so với thời hậu thế thì còn đúng hay sai, sao cứ phải khư
khư giữ lấy những gì lỗi thời của tiền nhân? Nếu tất cả đều quyết tâm giữ gìn tục lệ cổ xưa, ái cũng muốn báo đền chữ hiếu bằng việc tống táng quá long trọng như vậy thì thế gian đào đâu ra gỗ tốt để đủ cung ứng? Mẹ của thầy chết thì các học trò phải chung lưng làm tang ma, nếu như cứ chấp nhất lễ nghi đã lỗi thời của người xưa, bày vẽ ra thêm thì tốn kém cho họ biết bao nhiêu?Cứ giữ mãi những gì tiền nhân để lại thì xã hội còn tiến bộ được như ngày nay không?
nhiên đáp: “Đó là lễ nghi của người xưa để lại, sao ta lại không theo?”. Một câu trả lời hoàn toàn chấp kiến, đến độ mê muội chẳng còn chút sáng suốt của hiền nhân nữa! Nghi lễ ấy quả nhiên do người xưa đặt ra nhưng so với thời hậu thế thì còn đúng hay sai, sao cứ phải khư
khư giữ lấy những gì lỗi thời của tiền nhân? Nếu tất cả đều quyết tâm giữ gìn tục lệ cổ xưa, ái cũng muốn báo đền chữ hiếu bằng việc tống táng quá long trọng như vậy thì thế gian đào đâu ra gỗ tốt để đủ cung ứng? Mẹ của thầy chết thì các học trò phải chung lưng làm tang ma, nếu như cứ chấp nhất lễ nghi đã lỗi thời của người xưa, bày vẽ ra thêm thì tốn kém cho họ biết bao nhiêu?Cứ giữ mãi những gì tiền nhân để lại thì xã hội còn tiến bộ được như ngày nay không?
Cùng thời kỳ ấy, một thánh
nhân khác là Trang Tử lại có cách cư xử khác hẳn:
Lúc ông sắp chết,
các môn sinh của ông bàn nhau định làm
đám tang thật lớn cho xứng với tên tuổi của ông. Trang
Tử liền nói: “Ta lấy trời đất làm quan
quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích,
tinh tú làm chuỗi hạt châu. Đồ tông táng đã
có muôn vật như vậy, tang sự của ta chẳng lẽ còn không
đủ sao? Các trò cần gì phải làm cho rình rang hơn
nữa!” Các môn sinh lo lắng đáp: “Chúng con cũng biết
vậy nhưng nếu làm sơ sài quá, táng thầy ngoài đồng
thì tránh sao được diều quạ rúc rỉa thân thể của thầy?”.
Trang Tử nghe vậy cười mà nói: “Thi thể người để trên
đất thì diều quạ nó rúc rỉa; chôn dưới đất thì trùng bọ
ăn. Bây giờ các trò cướp của loài này cho loài khác
ăn, sao các ngươi có
lòng dạ thiên lệch thế?
Lòng người mà thiên lệch thì
không công bằng, đem cái không công bằng mà cho là công bằng thì cái công bằng này không phải là
công bằng thật sự vậy. Cái tâm của người mà không sáng thì chẳng thành thật, đem
cái chẳng thành thật mà cho
là thành thật thì cái thành thật ấy đâu phải là thành thật. Ôi! Người
ta cứ khăng khăng giữ cái chẳng thật, chẳng phải là đáng thương lắm sao?”.
Tuy lúc ấy Phật giáo chưa
truyền đến Trung Thổ nhưng
ý nghĩa lời nói Trang Tử đã bao hàm lẽ Vô Thường của kiếp sông con người.
Đã hiểu ra Vô Thường thì sẽ không bao giờ còn tâm chấp trước bất cứ điều gì nữa. Người
ta chết
rồi, dù tông táng cách nào đi nữa thì rốt cuộc cái thân Ngũ Uẩn cũng tan rã
thành cát bụi, sao lại phải
chấp trước đến mức muốn giữ mãi cái vốn là Vô Thường ấy như Mạnh Tử đã
làm?
Một câu chuyện khác, cũng của
một nhân vậy nổi tiếng về văn học, đó là Tăng Sâm. Tăng Sâm được hậu thế biết đến với
bài học bất cứ việc gì dù hoang đường đến đâu nếu được nhiều người nhắc đi nhắc lại thì
vẫn có
thể khiến cho người ta tin rằng đó là sự thật. Câu chuyện “Tăng Sâm giết người”
đã đi vào văn học sử nhưng chính cuộc sông của ông ta lại cho chúng ta thấy rõ tính cách chấp
kiến của người xưa nặng nề hơn bây giờ rất nhiều: “Một lần Tăng Sâm theo
cha đi làm ruộng dưa, lỡ tay
bừa mất một số rễ cây. Cha Tăng Sâm là Tăng Tích giận dữ lấy gậy đánh vào
lưng ông ta một cái thật mạnh.
Tăng Sâm đau quá ngã gục xuống
chết điếng đi một lúc mới tỉnh lại. Tuy vậy, Tăng Sâm là người con hiếu nên không hề trách giận
cha, còn xin lỗi đã làm cha giận, sau đó ông vừa đàn vừa hát để tỏ cho cha biết mình
không còn đau đớn nữa. Khổng Tử nghe chuyện ấy liền nói với các trò cấm không cho Tăng Sâm đến
trường học nữa. Tăng Sâm không hiểu
vì sao, nhờ bạn đến hỏi thì Khổng Tử giải thích:
vì sao, nhờ bạn đến hỏi thì Khổng Tử giải thích:
Xưa vua Thuấn hết lòng hiếu thảo với cha là cổ Tẩu
nhưng khi cha nổi giận muôn đánh giết thì tìm cách
tránh xa. Vì thế Cổ Tẩu không bị mang tiếng bết từ với
con mà Thuấn cũng không vì thế mà mang tiếng bất
hiếu. Nay Tăng Sâm hiểu sai chữ hiếu, để cha đánh đến
nỗi ngất đi. Nếu như chết rồi thì tất cha phải bị tội, như
vậy còn gì bất hiếu hơn nữa? Sao không biết tránh đi mà
vẫn giữ vẹn chữ hiếu?
Tăng Sâm nghe vậy mới hiểu
ra sự chấp nhất đạo lý chữ "hiếu" của mình đã sai lạc, liền đến tạ lỗi cùng Khổng Tử”.
Cố Chấp
Không nhận ra.
Trong
kinh Phật có nhắc đến “chấp
mê bất ngộ”, tức là người đã cố chấp một cách u mê
thì chắc chắn không thể nào “ngộ” được đạo pháp. Thực
tế cho thấy không
ít Phật tử mang tâm trạng châp mê mà cứ
tưởng rằng mình là “con của Phật chân chính”. Họ thường đi chùa lễ lạy, thậm chí rất chăm chỉ nghe thuyết pháp, miệng luôn luôn nhắc tới “Sắc Sắc, Không Không”, thật ra chỉ để lòe người và tự dối mình và cho thế là đủ, là đã có tu hành, trong khi vẫn chưa trút bỏ được Tham, Sân, Si đối với dời. “Sắc Sắc, Không Không” của Phật
giáo mang ý nghĩa
cao thâm huyền diệu, đâu có thể chỉ vài
ba lời nói ngoài
miệng đã “ngộ” được đạo lý này. Còn có kẻ
ngỡ rằng Phật hay Bồ Tát đã đắc đạo thì quyền phép vô biên, có thể vượt qua ngoài giới hạn thông thường, có thể ban tặng vật chất tiền tài, danh vọng nếu như cố gắng
cầu xin. Do vậy mỗi khi đi chùa hay hành hương, những người này vô cùng “hỉ xả”, sẵn sàng cúng dường 'liều tiền bạc hay vật thực cho nhà chùa với hy vọng sẽ được Bồ Tát, Phật “đền đáp” xứng
đáng, nhưng đôi với người nghèo khổ thì họ có suy nghĩ
sai lầm rất đáng chê trách, đó là họ nghèo khổ bởi kiếp trước đã mang ác nghiệp, phải để cho họ trả hết ác nghiệp ấy chứ không nên cứu giúp!
Những người
“chấp mê” không bao giờ nghĩ tới làm việc thiện mới
chính là viên gạch xây dựng nền móng hạnh phúc cho
mình, không một vị Bồ Tát hay Thần Phật nào đủ thần
thông cứu độ cái tâm còn quá thiên về tham muốn thê
gian. Trong thực tế xã hội, chúng ta có
thể thấy rất nhiều người thiếu tri thức, học lóm học vẹt được một số điều trên báo chí hay nghe người khác nói, lập tức ghi vào tâm khảm mà không suy xét xem điều ấy thực sự đúng hay sai, có còn hợp thời nữa hay không? Có người được bạn bè gọi là “luật sư” bởi vì bất cứ cái gì cũng
cãi, cãi cho bằng được ý mình mới thôi, mặc dù bằng cấp không có, kiến thức cũng thô thiển chắp vá. Những mê lầm về kiến thức sẽ làm cho con người càng thêm đau
khổ bởi những thất bại trong công việc.
thể thấy rất nhiều người thiếu tri thức, học lóm học vẹt được một số điều trên báo chí hay nghe người khác nói, lập tức ghi vào tâm khảm mà không suy xét xem điều ấy thực sự đúng hay sai, có còn hợp thời nữa hay không? Có người được bạn bè gọi là “luật sư” bởi vì bất cứ cái gì cũng
cãi, cãi cho bằng được ý mình mới thôi, mặc dù bằng cấp không có, kiến thức cũng thô thiển chắp vá. Những mê lầm về kiến thức sẽ làm cho con người càng thêm đau
khổ bởi những thất bại trong công việc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét