Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Hình Thức Cố Châp "P1"

Thực tế trong đời sống chúng ta có thể thấy được khá nhiều hình thái của “chấp trước”. Có những chấp trước tạo ra bởi bản ngã, có những chấp trước bắt nguồn từ hình tướng, và cũng nhiều hình thái “chấp trước” là do cái tâm ganh ghét, so sánh đưa đến tức hận. Cũng có
một sô' hình thái “chấp trước” rất lạ lùng, mang tính chất
xuẩn ngốc như truyện kể vào đời Xuân Thu chiến quốc sau đây: “Có một ông vua, khi đến nhà thuộc hạ thân tín dự yến tiệc, nhìn thấy đôi bàn tay nõn nà trắng muốt của
hầu thiếp người thuộc hạ thì bất giác khen ngợi, có vẻ
rất thích thú. Ngờ đâu sau khi về cung rồi, nhà vua nhận
được “quà biếu” của viên cận thần ấy, giở ra xem thì đó là hai cánh tay của người thiếp yêu!”

Sự nịnh bợ của viên cận thần này quả đã đến mức “cao cường” vì một lời khen mà sẵn sàng hạ thủ chặt tay người thiếp yêu của mình. Thế nhưng tính ra hắn vừa muốn nịnh bợ lấy lòng nhà vua, vừa tiếc rẻ nhan sắc của người thiếp nên không hiến “cả người ngọc” mà đi dâng tặng đúng món nhà vua khen ngợi! Đây là hình thái “chấp trước” lạ lùng nhất trong lịch sử, biểu lộ tâm tư của con người thật không sao đoán ra được.
Người xưa nói: “Dò sông dò biển dễ dò. Nào ai lấy thước mà đo lòng người” quả không sai. Trong trường hợp này có thể suy đoán vì hai nguyên nhân: một là viên cận thần nịnh bợ một cách ngu xuẩn, bởi cánh tay tuy đẹp nhưng tách rời phần thân thể sẽ không còn ý nghĩa gì.
Chặt đi rồi chỉ trở thành “miếng thịt” mà sau vài ngày sẽ
hôi thối khủng khiếp, làm sao nhà vua ấy “thuởng thức” được nữa: hai là do tâm tư của hắn cực kỳ sâu hiểm, biết trước các vị vua chúa mỗi khi để ý đến phụ nữ nào thì sẽ dùng quyền Ịực tối thượng thỏa mãn. Do vậy hắn vin vào cớ nhà vua khen hai cánh tay mà “chặt đứt” tất cả nguồn gốc tai họa.
Sự ghen tuông của phụ nữ hầu hết đều bắt nguồn từ “chấp trước” về sắc đẹp, cộng với nỗi hờn ghen vì bị bỏ bê sẽ trở thành lòng tàn độc vô chừng. Lòng ích kỷ, thiên về cái tôi của phụ nữ chính là nguồn gốc của ghen tuông. Thời phong kiến nhà Hán, được lịch sử khen ngợi là minh trị, vẫn có những chuyện kinh thiên động địa xảy ra bắt nguồn từ sự ghen tuông đến mức mù quáng. Đó là việc Lã hậu, vợ của Lưu Bang đối xử vô cùng tàn nhẫn với một phu nhân họ Thích. Bà này không hề có tội gì ngoài việc “dám” chia sẻ tình cảm với Lã hậu.
Nguyên khi Lưu Bang thất trận ở Bành Thành, cha con, chồng vợ đều thất lạc. Lưu Bang nhờ chui xuống một cái giếng khô mới thoát nạn, một mình lủi thủi theo đường nhỏ mà đi. Đúng là số “chân mệnh Thiên tử”, chẳng bao lâu Lưu Bang lạc đến Thích gia trang và được ông ta gả con gái là Thích nữ. Vốn trước kia có một thầy tướng nhìn thấy nhan sắc của Thích nữ đã quả quyết rằng có số mệnh quyền quý. Nay bất ngờ Lưu Bang lạc đến thì đúng là duyên trời, hợp với lời thầy bồi nên Thích lão chẳng chần chờ gì nữa, cho hai bên hợp cẩn ngay đêm hôm ấy. Lưu Bang đang lúc thất bại tơi bời dưới tay Hạng Võ. Sau khi thành công, đánh bại Hạng Võ, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế rồi vẫn không dám phong cho Thích nữ làm Hoàng hậu bởi vì đã có vợ lớn là Lã Trĩ. Thấy Lưu Bang yêu thương Thích phu nhân, Lã hậu vô cùng tứ giận, chờ dến khi Lưu Bang băng hà thì liền bắt giam Thích phu nhân, chặt tay chặt chân, cắt lưỡi, moi mắt, nhốt vào chuồng lợn, cho ăn những loại thực phẩm cặn bã dành cho loài súc vật. Hành vi của Lã hậu tàn ác đến nỗi chính đứa con trai ruột của mình là Hán Huệ đế nhìn thấy “trư nhân” (người lợn) không khỏi thất sắc, kinh hoàng đến độ bỏ bê cả ngai vàng, sau này thành bệnh mà chết sớm.
Có thể thấy sự “chấp trước” của hai hình thái “chấp sắc tướng” và “chấp mê”  đã khiến con người ta trở thành dữ tợn hơn lang sói. Sự mê muội của con người khiến lý trí bị che lấp bởi “thú tính”, sẵn sàng ra tay theo tiếng gọi của lòng tàn nhẫn chứ không còn suy nghĩ gì đến đạo đức, lương tâm hay là nhân quả nữa.
Thật ra những lời nói của Lão Tử thiên về vô vi chứ không phải bi quan hay tiêu cực, đồng.thời nói rõ được một điều là trên đời này không ai là không mắc phải “chấp mê”, ít hay nhiều mà thôi. Đối với Lão Tử thì “vi vô vi, sự vô sự” (Đạo Đức kinh), nghĩa là “làm cái
không làm, lo toan cái không lo toan”, tức thể hiện tâm
thái không can thiệp, không tạo tác, không chỉnh sửa, buông bỏ tất cả dụng tâm hoặc toan tính, vị kỷ thì sự việc sẽ cứ vận hành theo lẽ tự nhiên như nó đang biểu hiện vậy. Ý nghĩa của vô vi theo Lão tử là vẫn nhận biết được đúng sai nhưng buông bỏ để sự việc diễn tiến một cách tự nhiên thì sẽ không còn “chấp trước” bất cứ thứ gì trên đời này nữa. “Đem con trở về nhà” mang ý nghĩa ấy.


Trong phần Hệ Từ thượng của Kinh Dịch thì giảng giải rộng hơn: “Vô vi dã, vô tư dã, tịch nhiên, bất động, cảm nhi toại thông thiển hạ chi cố”(Không hành động, không tìm kiếm, không suy nghĩ, không tính toán, chỉ cần yên lặng quan sát, lắng nghe và khi cảm nhận dược
sự cộng thông thì sẽ thấu hiểu tất cả mọi nguyên nhân
sự việc trong thiên hạ). Tiếc rằng con người luôn luôn “chấp mê” bởi chưa thể buông bỏ được “cái tôi” của mình, thậm chí càng học cao,càng có chí lớn thì lại càng “chấp mê” nhiều hơn.

Ngay cả những người muôn đem tài năng của mình ra cố gắng thay đổi, chuyển vần làm sao cho thế giới này trở thành “thiên đường”,và con người đoạn tuyệt đau khổ cũng là một dạng thái của “chấp mê”. Đã là con người thì không thể tránh khỏi đau khổ, không thể thoát khỏi Tử- Sinh, vì vậy phải chấp nhận cả cái đẹp lẫn cái xấu, chấp nhận hạnh phúc cũng như đau khổ thì mới là cuộc sống đích thực.
Lão Tử khuyên họ Bàng đem con trở về nhà tức là muôn họ chấp nhận những cái đã có trong cuộc đời con người. Lão Tử không đề ra phương pháp “thoát mê” nhưng qua lời khuyên “hãy đem con về nhà” và khẳng định “ngay như ta đây vị tất đã không mê” thì ai cũng biết chủ trương của ông tương tự với Trang Tử là: “Tri vong thị phỉ, tâm chi thích dã” (biết quên đi những chuyện đúng sai thì sẽ thích nghi với tâm tức khi không còn phân biệt đúng sai, hay dở của đời thì tâm không còn bị vướng mắc vì bất cứ việc gì nữa. Đó là cách giúp cho tâm chúng ta không bị quấy nhiễu bởi vô vàn vướng mắc, buồn phiền ở đời. “Quên đi đúng sai” không có nghĩa là “không biết đúng sai”, chúng tạ phải vẫn có nhận thức được sự việc nhưng hoàn toàn không ghi nhớ vào tâm, không chấp trước nó sẽ như thế nào. Đối với Trang Tử, để thoát khỏi cuộc đời lắm ô trọc này thì bất cứ việc gì cũng phải “biết quên”.
Trang Tử còn nói về tính cách thiên chấp của con người như sau: “Tự ky dị giả thị chi, cợn đảm Sở Việt dã. Tự kỳ đồng giả thị chi, vạn vật giai nhất dã”. (Nếu đứng cái nhìn thiên chấp, phân biệt, thì những sự vật gần gũi nhau như gan và mật cũng thấy xa cách như nước Sở và nước Việt. Nếu đứng nhãn quan bình đẳng, đại đồng, thì tất cả vũ trụ, thiên địa, vạn sự, vạn yật cũng thấy là một sự toàn thể). Đó là phương pháp Buông Xả của các Nho gia đời trước, tuy chưa rốt ráo bằng Buông Xả của nhà Phật bởi chưa kết hợp với tâm Từ Bi, nhưng vẫn đem lại diệu dụng phần nào, giúp cho cái tâm được nhẹ nhàng, thanh thản.
 
 
 

 

 

 


 

Không có nhận xét nào: