BẢN CHẤT CỐ CHẤP CỦA CON NGƯỜI
Hết thảy những thứ khổ não của đời này như ưu sầu, bi thương, khổ đau, buồn phiền hay giành giật, tranh đoạt,... nguyên nhân của nó bắt nguồn từ cái tâm cố chấp trước vào dục vọng khao khát vô cùng tận của con người.
Thương nhau trái bồ hòn cũng méo”
là vì vậy. Tâm “chấp trước” khiến người ta vì người mà ghét đến vật, thương thì cái gì cũng thương, ghét thì đến con chó con mèo cũng ghét. Tất cả đều bắt nguồn từ cái tâm “chấp trước” đối với hành động hay lời nói của người khác mà chúng ta “nắm giữ” rồi sinh ra đau thổ, tức bực, ganh ghét, v. v... Thậm chí có khi người ta chẳng làm gì đụng chạm đến mình, chỉ vì diện mạo “có vẻ chảnh chọe” hay là ăn diện thật kiểu cọ theo ý thích cũng đã gây ra sự chấp trước. Đó là bản chất “chấp hình tướng” của con người, hầu hết phụ nữ có cá tính này rất mạnh. “Chấp trước” khiến cho tình đời ấm lạnh vô chừng và đưa đến biết bao nhiêu đau khổ giận tức, làm cho cuộc sông của con người thêm vất vả và tâm tư nặng nề không thể nhận ra hạnh phúc đã được làm người. Khi hỏi về “thế nào là hạnh phúc ở đời” có người đã trả lời rất đơn giản mà thâm thúy:
St.......
Hết thảy những thứ khổ não của đời này như ưu sầu, bi thương, khổ đau, buồn phiền hay giành giật, tranh đoạt,... nguyên nhân của nó bắt nguồn từ cái tâm cố chấp trước vào dục vọng khao khát vô cùng tận của con người.
Đức Phật Gotama đã giác ngộ chân lý Duyên khởi mà hậu
thế hệ thống thành
“Thập nhị Duyên khởi”. Đó là thế giới quan truy tìm nguyên nhân của
khổ não hiện thực, và thấy rằng nguyên nhân căn bản chính là vô tri mê vọng nằm
ở gốc rễ tồn tại con người. Theo lịch sử thì trước khi được hệ thống hóa thành
mười hai yếu tố thì đã có Thuyết Duyên khởi cấu thành từ năm yếu tố. Và đương
nhiên nó cũng lần theo dấu vết nguyên nhân của khổ não hiện thực để rồi tìm ra
đó là tâm tham luyến, là vọng chấp, là chấp trước. Vô chấp có nghĩa là cắt đứt
dục vọng khao khát đóng vai trò nguyên nhân của mọi khổ não. Hơn nữa, khi Thế
Tôn giác ngộ thành Phật, bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài chính là Tứ thánh đế
giảng giải bốn chân lý về cái khổ của kiếp người và cách giải quyết khổ đau đó.
Cũng chính ở bài giảng này chúng ta nhận thức được thế gian là khổ và nguyên
nhân của khổ đau không gì khác ngoài dục vọng, chấp trước.
Nói chung con người trong
cuộc đời của mình không dễ dàng gì phủ định rốt ráo những chấp trước dục vọng
căn nguyên đó. Và cũng vì không dám phủ định cho nên không thấu suốt được hiện
thực khổ đau bi thảm của đời người.
“Chấp” nghĩa là cầm, nắm giữ; “trước” nghĩa là
giữ chặt hoặc bị vướng mắc. Cả hai đi cùng với nhau mang ý nghĩa là người ta
thiên về một ý kiến, một việc gì đó, giữ chặt lấy, không chấp nhận khác đi,
cũng có nghĩa là không chịu buông bỏ. Do vậy “Chấp trước” và “Buông xả”
chính là hai vế đôi lập với nhau. Đã “chấp trước” thì rất khó “buông xả”, mà khi đã đạt được cái tâm buông xả thì chẳng còn điều gì chấp nhất nữa cả. Vì vậy có thể nói, cái này tiêu diệt cái kia, hai vế đối lập, không thể song song với nhau.
chính là hai vế đôi lập với nhau. Đã “chấp trước” thì rất khó “buông xả”, mà khi đã đạt được cái tâm buông xả thì chẳng còn điều gì chấp nhất nữa cả. Vì vậy có thể nói, cái này tiêu diệt cái kia, hai vế đối lập, không thể song song với nhau.
“Chấp” cũng có nghĩa là
khư khư giữ ý kiến sai lạc của mình, thường được dùng chung với các từ khác
như: “chấp kiến” là khư khư giữ lấy ý kiến của mình; “chấp mê” là cố chấp, cô'
nắm giữ lấy diều mê muội của mình; “chấp nhất” là giữ khư khư theo một bề,
không chịu quyền biến, thay đổi, “chấp tướng” là tin vào hình tướng nào đó đã ghi
trong tâm ý, không chịu thay đổi, v. v... Riêng “chấp trước” mang ý nghĩa mạnh
mẽ hơn, là đã cố
chấp điều gì thì lại càng nắm thật chặt, không nghe theo bất cứ ý kiến của
người khác, nhất định không thay đổi. Người có
tính chấp trước thường được gọi dễ hiểu hơn là người “cô" chấp” hay “bảo thủ”. Tính “cố chấp” phi lý sẽ biến tướng thành “ngang bướng”.
tính chấp trước thường được gọi dễ hiểu hơn là người “cô" chấp” hay “bảo thủ”. Tính “cố chấp” phi lý sẽ biến tướng thành “ngang bướng”.
Khi đã
có tâm chấp trước thì người ta luôn luôn có những hành vi và cử chỉ khó chịu,
bướng bỉnh, thậm chí là ngoan cô", bởi vì hầu như sự việc gì cũng bị cái
tâm chấp trước suy xét theo chiều hướng vị kỷ. Họ sống cho mình với những quan điểm
và tư tưởng sai lầm nhưng không nhận biết và cũng không quyết tâm học hỏi để
sửa đổi. Có thể nói, chấp trước phát nguồn từ “cái tôi” quá lớn, theo thời gian
biến thành u mê, vị kỷ tới mức tất cả sự việc đều cho rằng mình đúng, người ta
sai.
Trong thực tế, chúng ta có
thể thấy rết nhiều biểu hiện của chấp trước mà điển hình nhất là những câu nói
dại loại như: “Cái này... của tôi là tốt nhất, đẹp nhất”, mặc dù vật dụng ấy
bán đầy thị trường, ai có tiền cũng mua được: thế nhưng nó vào tay “tôi” thì trở
thành quý giá và tốt nhất, không ai có bằng. Tâm lý này rất thực tế, hầu như ai
có món gì hơi quý giá một chút thì
đều tự hào vì nó. Những món đồ vật tầm thường ấy dã bị cái tâm chấp trước biến trở thành “độc nhất”. Bất cứ ai chê bai lập tức sẽ xảy ra “trận chiến” ngay và chắc chắn người chấp trước sẽ “cố thủ” ý kiến bằng mọi giá bởi nếu thú nhận mình sai lầm thì sẽ tổn thương đến cái bản ngã, tức là “cái tôi” của mình. Trong thâm tâm, có thể họ cũng biết như vậy nhưng vẫn không bao giờ thừa nhận sai lầm, đó “chấp trước”, một trong vô vàn biểu hiện của bản ngã.
đều tự hào vì nó. Những món đồ vật tầm thường ấy dã bị cái tâm chấp trước biến trở thành “độc nhất”. Bất cứ ai chê bai lập tức sẽ xảy ra “trận chiến” ngay và chắc chắn người chấp trước sẽ “cố thủ” ý kiến bằng mọi giá bởi nếu thú nhận mình sai lầm thì sẽ tổn thương đến cái bản ngã, tức là “cái tôi” của mình. Trong thâm tâm, có thể họ cũng biết như vậy nhưng vẫn không bao giờ thừa nhận sai lầm, đó “chấp trước”, một trong vô vàn biểu hiện của bản ngã.
Một
người bạn từ trước đến nay rất đạo mạo nghiêm cẩn, khi mua vé số, người bán nói
không có tiền thối lại, đi đổi tiền lẻ rồi đi luôn, ông bạn mất 10 ngàn vô lý.
Ông tức giận, hậm hực nói: “Tôi thấy hắn nghèo phải đi bán vé sô" kiếm
từng đồng từng xu nên mua giùm, thật ra chẳng thích trò đỏ đen. Thế mà hắn gạt
lấy 10 ngàn mđi tức chứ! Món tiền không đáng bao nhiêu nhưng chẳng thà xin thì
tôi có thể cho 100 ngàn cũng được, mất ít mà tức nhiều”.
Ông bạn liền lấy xe chạy
lòng vòng đi tìm, nhất quyết đòi cho bằng được sô" tiền nhỏ ấy, tìm không
ra thì tức tôi mãi đến mấy ngày hôm sau chưa nguôi. Từ đó trở đi, ông bạn già
của tôi nhìn những người bán vé sô' với cặp mắt khinh ghét. Đó chính là “chấp
trước” bởi vì ông ta đã chú ý đến “sự việc” chứ không phải là do sô' tiền nhiều
hay ít. Đã nghĩ rằng 10 ngàn không đáng là bao thì đừng nhớ tới nữa, có phải đỡ
mất công sức, mang thêm hận vào người rồi dẫn đến tâm trí cũng chuyển biến
thành nhận định sai lạc về các việc khác? Tiếc rằng tính cách “chấp trước” đã
che mờ lý trí, phát khởi Sân Hận mà vẫn được ngụy biện bằng những lời nói tưởng
như rất nhân đạo. Chấp nhất những việc lặt vặt như vậy thì suốt đời không bao
giờ được thảnh thơi, nhẹ nhàng trong tâm trí. Đó cũng là lẽ thường tình ở đời
bởi cuộc sống là sự thiên vị, chiều theo cảm tính của từng người. Vì vậy cuộc
đời sẽ không bao giờ có bình đẳng, không có đúng sai nhất định, cũng là nguyên nhân
đưa con người tới biển khổ.
Cổ
nhân có nói: “Ghét nhau củ ấu cũng
tròn, Thương nhau trái bồ hòn cũng méo”
là vì vậy. Tâm “chấp trước” khiến người ta vì người mà ghét đến vật, thương thì cái gì cũng thương, ghét thì đến con chó con mèo cũng ghét. Tất cả đều bắt nguồn từ cái tâm “chấp trước” đối với hành động hay lời nói của người khác mà chúng ta “nắm giữ” rồi sinh ra đau thổ, tức bực, ganh ghét, v. v... Thậm chí có khi người ta chẳng làm gì đụng chạm đến mình, chỉ vì diện mạo “có vẻ chảnh chọe” hay là ăn diện thật kiểu cọ theo ý thích cũng đã gây ra sự chấp trước. Đó là bản chất “chấp hình tướng” của con người, hầu hết phụ nữ có cá tính này rất mạnh. “Chấp trước” khiến cho tình đời ấm lạnh vô chừng và đưa đến biết bao nhiêu đau khổ giận tức, làm cho cuộc sông của con người thêm vất vả và tâm tư nặng nề không thể nhận ra hạnh phúc đã được làm người. Khi hỏi về “thế nào là hạnh phúc ở đời” có người đã trả lời rất đơn giản mà thâm thúy:
“Hạnh phúc là cái bóng của khổ đau, không có khổ đau thì người ta sẽ
không cảm nhận được hạnh phúc”.
Tôi
cảm thấy hạnh phúc vì đã làm người, có một nơi chôn để đi về, có một gia đình
để yêu thương chăm sóc. Đó là hạnh phúc mà chúng ta không biết hưởng thụ đấy
thôi”. Thế nhưng hạnh phúc luôn
đi đôi với khổ đau nên nhiều người chỉ biết khổ đau mà không cảm nhận được hạnh
phúc mình đang có, đó là đã được làm người, một loài động vật cao cấp nhất trên
hành tinh này. Còn về tình đời “ếm lạnh” thất thường thì trong kho tàng văn học
Trung Hoa ghi lại cũng khá nhiều, biểu hiện được bản chất “chấp trước” tùy theo
sự nhận định của cái tâm ngay thời điểm ấy. Điển hình là câu chuyện
của Vệ vương và cận thần tên là Di Tử Hà: “Vệ vương hết sức sủng ái Di Tử Hà, phàm việc gì cũng khen ngợi, dù là việc phạm pháp cũng có lý lẽ để che chở cho hắn. Phép của nước Vệ là ai dám trộm dùng long xa của nhà vua thì bị tội chặt chân. Một lần mẹ Di Tử Hà đau nặng, ngay đêm khuya cho người đến gọi về. Di Tử Hà vội vàng lấy long xa của nhà vua mà đi Sáng hôm sau nghe tin, vua Vệ liền khen Di Tử Hà là người có đại hiếu, vì mẹ mà quên cả tội chặt chân. Một hôm khác, Di Tử Hà theo nhà vua đi chơi trong vườn. Tử Hà đang ăn dở một trái đào, thấy ngọt liền đưa cho nhà vua ăn tiếp. Vua nước Vệ nhận đào,lại khen ngợi: “Tử Hà thật là yêu vua! Đang lúc ăn ngon mà vẫn biết nhường lại cho ta”. Thế nhưng sau đó ít lâu, nhà vua không còn có lòng yêu thương nữa, nhân một hôm Di Tử Hà phạm lỗi thì nhắc lại các việc trước kia, quát mắng: “Trước kia ngươi dám tự tiện lấy xe của ta đi, sau đó lai đưa dào thừa cho ta ăn, thực là coi thường ta quá”. Mắng xong, vua Vệ sai quân mang Di Tử Hà ra trị tội ngay. Lúc trước vì lòng thương yêu Di Tử Hà, Vệ vương không còn “cái tôi” nữa nhưng khi lòng thương yêu ấy nhạt đi thì “cái tôi” tiềm ẩn bắt đầu xuất hiện, càng ích kỷ và mạnh mẽ hơn Có thể thấy rõ khi yêu, Vệ vương luôn tìm được lời khen để biện hộ cho Di Tử Hà nhưng thật sự đã ghi vào tâm trí những việc ấy, nhờ tình cảm đang thắng thế nên lấn át lý trí phán xét, đến khi lòng yêu đã hết, bao nhiêu ghi nhớ lập tức phát xuất thành cơn lôi đình. Tính cách chấp nhất của con người luôn luôn ngự trị, có khi không biểu lộ ra ngoài là vì bị tình cảm chi phôi, lấn át. Người ta có thể chấp trước đến từng sự việc nhỏ nhặt nhất, thí dụ như việc ông bạn già mất 10 ngàn kể trên, hay như những câu truyện cổ sau ghi lại:
của Vệ vương và cận thần tên là Di Tử Hà: “Vệ vương hết sức sủng ái Di Tử Hà, phàm việc gì cũng khen ngợi, dù là việc phạm pháp cũng có lý lẽ để che chở cho hắn. Phép của nước Vệ là ai dám trộm dùng long xa của nhà vua thì bị tội chặt chân. Một lần mẹ Di Tử Hà đau nặng, ngay đêm khuya cho người đến gọi về. Di Tử Hà vội vàng lấy long xa của nhà vua mà đi Sáng hôm sau nghe tin, vua Vệ liền khen Di Tử Hà là người có đại hiếu, vì mẹ mà quên cả tội chặt chân. Một hôm khác, Di Tử Hà theo nhà vua đi chơi trong vườn. Tử Hà đang ăn dở một trái đào, thấy ngọt liền đưa cho nhà vua ăn tiếp. Vua nước Vệ nhận đào,lại khen ngợi: “Tử Hà thật là yêu vua! Đang lúc ăn ngon mà vẫn biết nhường lại cho ta”. Thế nhưng sau đó ít lâu, nhà vua không còn có lòng yêu thương nữa, nhân một hôm Di Tử Hà phạm lỗi thì nhắc lại các việc trước kia, quát mắng: “Trước kia ngươi dám tự tiện lấy xe của ta đi, sau đó lai đưa dào thừa cho ta ăn, thực là coi thường ta quá”. Mắng xong, vua Vệ sai quân mang Di Tử Hà ra trị tội ngay. Lúc trước vì lòng thương yêu Di Tử Hà, Vệ vương không còn “cái tôi” nữa nhưng khi lòng thương yêu ấy nhạt đi thì “cái tôi” tiềm ẩn bắt đầu xuất hiện, càng ích kỷ và mạnh mẽ hơn Có thể thấy rõ khi yêu, Vệ vương luôn tìm được lời khen để biện hộ cho Di Tử Hà nhưng thật sự đã ghi vào tâm trí những việc ấy, nhờ tình cảm đang thắng thế nên lấn át lý trí phán xét, đến khi lòng yêu đã hết, bao nhiêu ghi nhớ lập tức phát xuất thành cơn lôi đình. Tính cách chấp nhất của con người luôn luôn ngự trị, có khi không biểu lộ ra ngoài là vì bị tình cảm chi phôi, lấn át. Người ta có thể chấp trước đến từng sự việc nhỏ nhặt nhất, thí dụ như việc ông bạn già mất 10 ngàn kể trên, hay như những câu truyện cổ sau ghi lại:
“Khổng
Tử đi dạo chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà ngồi khóc ở bờ đầm, ông lấy làm lạ
bèn bảo học trò tới hỏi vì cớ gì mà khóc. Khi biết người đàn bà ấy chỉ vì đánh
mất cái trâm cài đầu bằng cỏ thi mà xúc động phát khóc, Khổng Tử cho rằng việc
không dáng. Thế nhưng người đàn bà chùi nước mắt nói: “Tôi không phải vì đánh
mất cái trâm bằng cỏ chẳng đáng mấy đồng mà khóc. Khóc là vì thương tiếc một
vật cũ dùng đã lâu, nay không sao tìm lại được nữa”. Đến một vật cũ, không giá trị
mà người ta cũng có thể chấp nhất và tiếc rẻ đến độ xúc động thì đủ biết bản
ngã của con người không thể lường hết được. Lấy tình cảm thân thiết với cái
trâm ra
biện hộ chính là che giấu bản tính chấp nhất với những gì mình đã có, nay lại mất đi mà thôi. Người thiếu hiểu biết không hề biết có “mất đi” thì mới được “nhận lại” và “cho đi” là “còn mãi mãi”. Lợi ích của việc “cho đi” không thấy ngay nhưng quan trọng vô cùng.
biện hộ chính là che giấu bản tính chấp nhất với những gì mình đã có, nay lại mất đi mà thôi. Người thiếu hiểu biết không hề biết có “mất đi” thì mới được “nhận lại” và “cho đi” là “còn mãi mãi”. Lợi ích của việc “cho đi” không thấy ngay nhưng quan trọng vô cùng.
St.......
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét