Đúng
Sai khó phân biệt
Đúng hay sai ở đời này quả là khó phân biệt. Nếu như không biết “bỏ qua”, không có cái tâm trong sáng để suy xét sự việc đúng nguyên nhân, nguồn gốc thì tất sẽ xảy ra chấp nhất sai lầm. Ngạy cả những bậc được gọi là Thánh nhân cũng có khi nhận định sai lầm bởi hình tướng hiển hiện tức thời, dựa vào hình tướng ấy mà kết luận sự việc một cách vội vã. Như truyện Nhan Hồi sau: “Một lần kia, khi Nhan Hồi nấu cơm, lúng túng làm rơi vãi vài hột ra ngoài.’ Thấy nó chỉ bị bẩn chút ít, Nhan Hồi liền tiếc rẻ nhặt lên, phủi đi và đưa vào miệng bởi không thể bỏ lại vào nồi cơm đang nấu.
Đúng hay sai ở đời này quả là khó phân biệt. Nếu như không biết “bỏ qua”, không có cái tâm trong sáng để suy xét sự việc đúng nguyên nhân, nguồn gốc thì tất sẽ xảy ra chấp nhất sai lầm. Ngạy cả những bậc được gọi là Thánh nhân cũng có khi nhận định sai lầm bởi hình tướng hiển hiện tức thời, dựa vào hình tướng ấy mà kết luận sự việc một cách vội vã. Như truyện Nhan Hồi sau: “Một lần kia, khi Nhan Hồi nấu cơm, lúng túng làm rơi vãi vài hột ra ngoài.’ Thấy nó chỉ bị bẩn chút ít, Nhan Hồi liền tiếc rẻ nhặt lên, phủi đi và đưa vào miệng bởi không thể bỏ lại vào nồi cơm đang nấu.
Khổng Tử nhìn thấy thì cho rằng Nhan Hồi đã
lén ăn trước sư phụ nhưng ông chỉ gọi ra nhẹ nhàng trách móc như thế là sai lễ.
Riêng Tử Lộ vôn nóng tính, liền lớn tiếng mắng bạn đồng học, cho Nhan Hồi là
hỗn hào. Nhan Hồi liền trình bày sự việc, Khổng Tử nhận ra sai lầm, gọi các đệ
tử đến giảng giải là có khi những việc tưởng như hiện thực trước mặt nhưng thật
ra lại có nguyên do khác, không nên xét đoán vội vàng. Đó là việc trước mắt mà
vẫn gây hiểu lầm, huống chi thế gian có quá nhiều sự đồn đãi, một đồn mười, mười
đồn trăm rồi đi đến ấn tượng đi người
nào đó không dứt bỏ được.
Đối với thời điểm
Xuân Thu chiến quốc, “Tri vong thị
phi, tâm chi thích dã” là một phương pháp rất hay để “trốn đời”,
thoát vòng tục lụy. Nhưng sau này Phật giáo phổ biến ở Trung Hoa thì học thuyết
“quên đời” của Lão tử và Trang tử đã phai nhạt đi, thay vào đó là giáo lý Buông
Xả, coi tất cả sự việc trên cuộc đời, cũng như tấm thân chúng ta đang sông đều là
Vô Thường. Đã là Vô Thường thì trắng cũng như đen, có lúc này lúc khác, có thay
đổi chứ không đứng
mãi một chỗ. Vì vậy khi ta nhận rằng vật ấy “đen” thì có lúc nó cũng chuyển thành “trắng”, không bền vững mãi một hình thái nào, nên không mê mà cũng không hề là chân lý để bắt buộc người ta phải bắt chước theo. Trong cuốn Cổ Học Tinh Hoa có ghi lại một truyện về
cái “mê” của con người, tuy là ngụ ngôn nhưng cũng rất đáng để chúng ta suy nghĩ:
mãi một chỗ. Vì vậy khi ta nhận rằng vật ấy “đen” thì có lúc nó cũng chuyển thành “trắng”, không bền vững mãi một hình thái nào, nên không mê mà cũng không hề là chân lý để bắt buộc người ta phải bắt chước theo. Trong cuốn Cổ Học Tinh Hoa có ghi lại một truyện về
cái “mê” của con người, tuy là ngụ ngôn nhưng cũng rất đáng để chúng ta suy nghĩ:
“Đời trước có người vừa sinh ra đã bị mù
mắt, vì thế khi lớn lên anh ta nghe ai nói về sự vật nào cũng không tin, quả
quyết nói: ‘Các ông nói sao chứ? Tôi chi thấy quanh mình toàn là màu đen, làm
gì có những đồ vật đẹp đẽ đầy màu sắc như các ông đã nói? Tôi chưa thấy nên chưa
tin’.Sau này nhờ được một danh y chữa chạy nên anh ta đã có thể nhìn thấy được.
Lúc nhìn thấy các đồ vật trong phòng, anh ta liền vui vẻ nói: ‘Tôi đã thấy được
các đồ vật trong nhà, bây giờ tôi mới tin là chúng có thật, trên đời hóa ra chỉ
có những vật này mà thôi
Người
khác nghe vậy vừa buồn cười vừa tức giận, liền kể cho anh ta nghe về những
phong cảnh tráng lệ, núi non hùng vĩ cùng với những chuyển vận tự nhiên của mặt
trời huy hoàng, mặt trăng sáng dịu, các tinh tú lấp lánh như châu ngọc. Thế
nhưng anh ta nhất định không tin, cho rằng: ‘Tôi đã thấy các đồ vật này thì tin
rằng cón thật, còn những điều các anh nói tôi chưa thấy nên vẫn chưa tin’.
Mọi người liền góp tiền cho anh ta đi du
lịch, lúc đó anh ta mới tận mắt được nhìn cảnh đẹp, được nhìn thấy rõ ràng tinh
tú, trăng sao nên khoan khoái cười nói: ‘Tôi đã được nhìn thấy phong cảnh cùng
các tinh tú của vũ trụ, vì thế tôi cho rằng chẳng còn gì hơn thế nữa, chẳng
còn ai nhìn được nhiều hơn tôi nữa’. Một hiền giả nghe vậy lắc đầu nói: Con người phải nhìn mới dám tin! Tầm mắt đã quá hạn hẹp mà dám tự phụ cho rằng mình nhìn thấy tất cả, hiểu biết tất cả, không ai hơn được thì có khác gì còn đang bị mù, lấy sáng làm tối, lấy tối làm sáng, có mắt cũng như không mà thôi?.”
còn ai nhìn được nhiều hơn tôi nữa’. Một hiền giả nghe vậy lắc đầu nói: Con người phải nhìn mới dám tin! Tầm mắt đã quá hạn hẹp mà dám tự phụ cho rằng mình nhìn thấy tất cả, hiểu biết tất cả, không ai hơn được thì có khác gì còn đang bị mù, lấy sáng làm tối, lấy tối làm sáng, có mắt cũng như không mà thôi?.”
Tất nhiên trong
đời chắc chắn không có ai mù quáng đến độ khư khư giữ lấy những hiểu biết nông
cạn của mình nhưng câu truyện biểu hiện rõ ràng sự vô minh của loài người chúng
ta: đó là chưa tận mắt nhìn thấy sự vật gì thì không bao giờ chịu tin. Đó là sự
“chấp mê” mà hầu hết con người đều mắc phải, cả về vật chất lẫn tinh thần. Thậm
chí họ còn lấy “cái tôi” thiển cận của mình ra đôi chiếu với mọi việc, thành ra
đã vô minh lại càng mê muội, không tỉnh ngộ. Đọc nhiều sách báo nhà Phật, chúng
ta có thể nhận ra rõ ràng qui luật bất di bất dịch là Nhân-Quả Báo-ứng, thế
nhưng “chưa thấy tận mắt thì chưa tin”, kết quả vẫn sa vào “chấp mê” với những
hình tướng vật chất vô thường của thế gian, rước lấy đau khổ và bất hạnh ngay
trong chính cuộc đời này hoặc là trong kiếp sau.
Không ít người
khẳng định: “Làm gì có Nhân Quả ở đời này! Không thấy những kẻ giàu sang hung
ác đều sung sướng phởn phơ, trong khi người hiền lương chịu biết bao nhiêu
thiệt thòi dấy hay sao?”. Chính họ đã tự lừa dối mình để “yên tâm” tiến hành
những thủ đoạn gian trá hòng chiếm đoạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Họ cho
rằng tiền bạc vật chất, quyền thế danh vọng trên đời này mới là sức mạnh giúp
người ta có được hạnh phúc. Những người có tâm tham lam chấp trước, lừa dối
chính mình chẳng khác gì anh chàng thư sinh trong câu chuyện thời nhà Đường:
“Lúc ấy có một thư sinh rất nghèo, tuy vẫn cô" gắng học hành nhưng trong lòng
lúc nào cũng mơ ước đến cảnh giàu sang, vật chất huy hoàng, vì vậy bao nhiêu
lời thánh hiền lọt vào tai
này chạy tuốt sang tai kia, chẳng có tiến bộ bao nhiêu. Một hôm anh ta đọc được một câu ở trong sách phương thuật nhảm nhí của bọn đạo gia, ghi rằng: “Nếu như tìm được cái lá mà con bọ ngựa đang dùng để che giấu thân mình hòng rình bắt con ve sầu thì cái lá ấy cũng có quyền lực che giấu được thân thể của người khi đưa lên che mắt lại”.
này chạy tuốt sang tai kia, chẳng có tiến bộ bao nhiêu. Một hôm anh ta đọc được một câu ở trong sách phương thuật nhảm nhí của bọn đạo gia, ghi rằng: “Nếu như tìm được cái lá mà con bọ ngựa đang dùng để che giấu thân mình hòng rình bắt con ve sầu thì cái lá ấy cũng có quyền lực che giấu được thân thể của người khi đưa lên che mắt lại”.
Thư sinh vừa đọc xong, vô tình nhìn lên ngọn
cây thì thấy có một con bọ ngựa đang ẩn núp sau một chiếc lá rình bắt con ve
sầu, giống y như trong sách mô tả. Thư sinh này mừng quá, vội vàng trèo ngay
lên cây, đuổi con bọ ngựa đi rồi hái cái lá đó mang xuống. Khi tới đất, thư sinh
mừng đến run rẩy cả chân tay nên làm rơi cái lá thần diệu kia xuống đống lá đã
rụng từ mấy ngày trước dưới gốc cây, không sao tìm ra chính xác đâu là cái lá thần
diệu nữa.
Thư sinh
bèn hốt hết đông lá cây ấy mang về sân nhà, nhẫn nại thử từng cái lá một. Mỗi
lần đưa lá cây lên che mắt, thư sinh lại hỏi vợ: “Có nhìn thấy tôi không?”. Nhiều
lần người vợ đáp là nhìn thấy rất rõ nhưng thư sinh không hề chán nản, vẫn kiên
nhẫn thong thả thử từng cái lá một. Quá nhiều lá nên thư sinh hỏi đến hàng trăm
lần khiến người vợ hết sức bực bội, ngán ngẩm, đáp bừa luôn: “Thôi! Thôi, tôi
chẳng nhìn thấy gì hết”. Đang nóng ruột trong lòng, thư sinh không cần hiểu ý
nghĩa của câu nói hờn giận của vợ ra sao, lại tưởng là thật nên mừng như phát
điên, lập tức chạy ngay ra chợ, dùng cái lá che mắt rồi ung dung thò tay lấy
vàng bạc của người ta một cách công khai Dĩ nhiên anh ta bị mọi người trói
nghiến lại, dẫn lên quan huyện trình báo. Quan huyện tra hỏi đầu đuôi, biết sự
thật thì bật cười lớn, nói: ‘Thật là xuẩn ngốc, tự đi lừa dối mình thì ngươi
còn làm gì nên chuyện lớn lao được nữa. Ta có trừng phạt cũng chẳng ích gì’.
Quan huyện liền thả thư sinh về, không hề bắt tội”.
Hỡi ôi!
Vì mơ ước giàu sang danh vọng mà con người chấp mê đến độ chẳng còn lương tri,
tự “lấy lá che mắt của mình” thì thật đáng thương cho chúng sinh không bao giờ
thoát khỏi trầm luân trong biển khổ. Cuộc đời chắc chắn là đau khổ với tiến
trình Sinh, Lão, Bệnh, Tử, ai ai cũng có thể nhận ra hoặc là đã thể nghiệm trong
những lần đau ốm, có khi đến mức thập tử nhất sinh, thế mà người ta vẫn còn
nhắm mắt chạy theo những hư ảo của thế gian, càng làm cho tâm chất chứa thêm
phiền não. “Chết” là điều bắt buộc, không ai thoát khỏi nên người ta không sợ
hãi bởi vì cho rằng “chết là hết”, không đủ minh trí để nhận ra rằng tuy
phải chết thật đấy nhưng chết như thế nào mới là điều dáng suy nghĩ. Không ít người vì cứ tưởng “chết là hết” nên trong cuộc sông dùng mọi thủ đoạn bất nhân làm giàu trên xương máu người khác, rốt cuộc đến khi chết mới biết mình lầm lẫn, lúc đó thì đã quá muộn mất rồi.
phải chết thật đấy nhưng chết như thế nào mới là điều dáng suy nghĩ. Không ít người vì cứ tưởng “chết là hết” nên trong cuộc sông dùng mọi thủ đoạn bất nhân làm giàu trên xương máu người khác, rốt cuộc đến khi chết mới biết mình lầm lẫn, lúc đó thì đã quá muộn mất rồi.
Đã “chấp mê, chấp trước” tạo nên Nghiệp thì khi
chết rồi chúng vẫn còn đeo đuổi mãi mãi đến đời sau, như vậy “chết” chưa phải
là chấm dứt nếu chưa diệt trừ được
“chấp trước”.
“chấp trước”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét